Recent Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tản mạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Nỗi nhớ thoảng qua

1. Một buổi sáng đã lâu, tôi có dịp lang thang ở Hạ Long. Trời mưa rong bão, sụt sùi như thể mưa ngâu. Lúc đi ngang qua một ngôi nhà đang sửa chữa, bắt gặp hai anh thợ xây đang ngồi nghỉ trước hiên nhà vì mưa. Giữa hai anh là hai lon Heineken. Chợt nghe một anh nói với anh kia: "Giờ này chắc ở nhà đang gặt". Tôi liếc qua, thấy anh vừa nói vừa đưa tay gãi má, cái miệng hơi méo đi.

Chỉ một câu thế thôi mà vời vợi cả một nỗi nhớ quê.

Hẳn là, nếu các anh không ra thành phố hành nghề, cũng giờ đó, các anh có lẽ đang nghỉ bên bờ ruộng sau ca gặt sớm, cũng mồ hôi nhễ nhại thế kia. Chỉ khác, giữa hai anh không phải là hai lon Heineken uống dở mà là một ấm chè tươi nhem nhuốc, và khác hơn tất cả, một anh sẽ không phải thốt ra câu nói kia.

2. Chủ Nhật trước đi ngang qua phố Liễu Giai. Lúc qua ngã tư Liễu Giai cắt Cống Vị, bỗng lại gặp mấy anh thợ xây vừa túa ra từ một công trường xây dựng gần đó. Cả nhóm lấm lem vữa và mồ hôi, nhưng những ánh mắt và nụ cười thì cực kì tươi tắn. Chỉ là vì, họ đang tranh nhau bẻ những cành dâu da chín mọng mà người quanh đó bỏ không ai thèm hái. Nhìn những người công nhân lớn tuổi giành nhau từng chùm dâu da chín, chí choé và hể hả, tự dưng thấy đời vui hơn nhiều lắm.

Nhưng cũng vì thế, mà lại bùng nên nỗi nhớ quê. Ở quê tôi, dâu da, nếu không phải là một "đặc sản", thì cũng là một đặc trưng hiếm có. Chẳng thế mà cái thị trấn ấy còn được gọi là "thị trấn dâu da". Mùa hè đến, dâu da hai bên đường nở hoa trắng xoá, đi đường mà ngỡ như đi trong rừng hoa trắng.

Giờ thì dâu da chỉ còn là trong kỷ niệm. Nếu những rặng dâu da đó mà còn, hẳn là giờ này thị trấn cũng đang trong mùa dâu da chín.

3. Hồi còn nhỏ, quê tôi nhà nào cũng trồng ít nhất một cây dâu da trước cửa. Có nhà có tới hai cây: một cây sân trước, một cây sân sau. Mùa dâu da chín, mọi người ăn không xuể, thường để cho thương lái đến thu mua. 

Tôi còn nhớ một bà cụ, đã già lắm. Bà buôn chuyến Quỳnh Côi-Hải Phòng. Cứ đến mùa bà lại thu mua dâu da, giấm chín bằng lá xoan, rồi cắt ra bó thành từng chùm nhỏ 15, 20 quả một chùm. Rồi bà mang ra Hải Phòng bán. Hồi đó tôi còn bé nên chẳng biết bà buôn bán lời lãi thế nào, nhưng chắc là sống được, vì năm nào bà cũng rất vui vẻ thu mua. Không hiểu sao trong số rất nhiều người thu mua dâu da thời đó, tôi chỉ nhớ mỗi bà cụ này. Cụ già với những chùm dâu da bó gọn gàng, và những chuyến xe khách xộc xệch tuyến Quỳnh Côi-Hải Phòng.

4. Nếu những rặng dâu da ấy còn, và tôi thì nhỏ lại, hẳn là giờ này cũng đang có một cậu bé vắt vẻo trên cái chạc ba của cây dâu da, cứ lật qua một trang của cuốn sách đang đọc dở lại với tay ra vặt một quả dâu da chín trong chùm dâu da gần nhất bỏ vào miệng. Khi một buổi chiều đã qua và cuốn sách đã hết, thì cũng là lúc những chùm dâu da chỉ còn trơ  lại toàn cuống, và dưới gốc cây thì cơ man là hạt dâu da.

Thời đó đã qua đi mãi mãi không bao giờ trở lại.

5. Mùa vu lan đến cũng là mùa ổi chín. Tự dưng nhớ một chiều hè muộn năm nào đã xa lắm, có một người mẹ trẻ đèo theo một cậu bé con trên một cái xe đạp màu xanh. Trên tay cậu bé là một cây ổi nhỏ, một cây ổi "chiết cành" chứ không phải gieo từ hạt. Vì thế, trên cái thân cây nhỏ bé đó đã có một quả ổi rất to. Cậu bé nâng niu cây ổi đó lắm. Từ đó, năm nào cây ổi cũng cho ra rất nhiều quả to và ngon. 

Đã có rất nhiều mùa ổi đã đi qua. Ngay cả khi người mẹ đó đã không còn nữa, thì cây ổi mẹ trồng vẫn cho những trái ổi ngọt thơm mà ngày nay không tìm lại được. 

Cũng như, không thể tìm lại được thời gian đã mất.

6. Tự dưng chỉ muốn chạy ù một phát về quê. Thật đúng là "giang hồ vặt", nhìn thấy quả ổi cũng nhớ nhà.

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2011

Like Father, Like Son

1. Mặc dù đã là bố của hai nhóc con, thời gian làm bố đã sắp được tám năm, tôi vẫn có cái mặc cảm là tôi chưa phải là một ông bố tốt. Chưa tốt ở cái nghĩa tôi chưa phải là một người bạn đích thực của chúng.

Một trong những điều mà tôi không thích nhất ở công việc hiện tại của tôi, đấy là có ít thời gian dành cho gia đình, và cho con cái, tất nhiên. Trong khoảng thời gian ít ỏi còn lại bên chúng, tôi lại mắc phải một cái tật rất xấu, ấy là không đủ kiên nhẫn để không la hét hay đe nẹt chúng mỗi khi chúng đi quá giới hạn, tất nhiên là giới hạn theo cách nhìn nhận của tôi. Tôi luôn muốn chúng được tự do, nhưng trên thực tế, tôi lại đang gò ép chúng theo những chuẩn mực do mình đặt ra, vết xe đổ mà rất nhiều bậc cha mẹ khác cũng đang mắc phải. Ở điểm này, mong muốn và hành động của tôi đã không được nhất quán. Tôi đã nhầm.

Mỗi khi chúng tranh giành nhau, tôi thường hay lôi câu chuyện làm anh khó lắm ra để giễu. Nhưng nghĩ lại, tôi mới thấy làm bố mới đúng là khó lắm. Làm anh hay làm em vẫn còn dễ chán, các ông tướng của tôi ạ.

2. Một trong những ám ảnh lớn nhất của tôi là sự hy sinh của người cha dành cho tôi, những hy sinh mà ngôn từ ít ỏi của tôi không thể viết thành lời. Nỗi ám ảnh ngày càng lớn khi ông ngày càng già đi và những đứa con của tôi lớn lên từng ngày. Phải ở trong cái hệ quy chiếu đó, tôi mới hiểu được sự hy sinh của ông lớn tới dường nào. Đức hy sinh đó dường như tôi chưa học được, từ cha tôi.

3. Ngày mai là ngày Chủ Nhật thứ ba của tháng Sáu. Ở phương Tây, người ta gọi là Ngày của Cha.

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

I feel the sorrow

Phòng làm việc của tôi nằm trên tầng bốn của một căn nhà hướng ra công viên. Toàn mảng tường phía trước của căn phòng được làm bằng kính. Mỗi khi mở hết những tấm lam gỗ, trước mặt tôi luôn là một bức tranh lớn. Bức tranh bốn mùa của cây cối và thời tiết. Vì là tầng bốn, nên độ cao ngang tầm những tán cây. 

Ngay lúc này đây, khi rời mắt khỏi máy tính, ngoài kia đang là cả một buổi chiều mùa hè nắng gay gắt. Tôi mở hết những lam gỗ và đứng sát cửa sổ. Tôi như đang lơ lửng trên một biển mây màu xanh của những tàng cây dầy đặc. Trên phía xa kia, mây đang sơn từng miếng lớn màu trắng lên bầu trời cũng xanh một cách lạ kỳ. Trời nắng nhưng có gió, tôi nhận ra điều đó qua những cành lá, những cụm hoa điệp vàng đang rung rinh trước mặt. Ẩn nấp đâu đó sau những vòm cây bên kia đường là những cành phượng còn sót lại sau mấy cơn mưa lớn. E lệ như những đốm lửa nhỏ gắng cháy nốt trước khi rơi xuống thành tấm thảm đỏ dưới đường.

Không phải "i như trong thánh kinh", nhưng quả thật nó giống i như những dòng này:

Oh my love for the first time in my life, 
My eyes are wide open, 
Oh my lover for the first time in my life, 
My eyes can see, 

I see the wind, 
Oh I see the trees, 
Everything is clear in my heart, 
I see the clouds, 
Oh I see the sky, 
Everything is clear in our world, 

Oh my love for the first time in my life, 
My mind is wide open, 
oh my lover for the first time in my life, 
My mind can feel, 

I feel the sorrow, 
Oh I feel dreams, 
Everything is clear in my heart, 
Everything is clear in our world, 
I feel the life, 
Oh I feel love. 

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2011

When I'm sixty four

Tôi tỉnh dậy lúc trời còn mờ sáng. Trước mặt là cả một cánh đồng còn im lìm trong sương sớm. Mùi lúa chín vảng vất, rất nhẹ và khẽ khàng, khiến cái mũi hỏng của tôi phải một lúc mới nhận ra. Chẳng có việc gì làm, tôi lại chui vào màn đánh thêm một giấc ngắn.

Tôi mở mắt trong ánh nắng rực rỡ của mùa hè. Thay vào tiếng côn trùng rả rích đêm qua là những lích chích của lũ chim sâu đang nhảy nhót trên mấy cây hoè dọc ngõ. Tôi nhìn ra phía cổng, nơi mấy ngọn hoa mướp vàng ươm dưới nắng mai đang rung rinh trước gió. Lớp sương rất mỏng của mùa hè Bắc Bộ đã tan hết, để lộ ra cả đồng lúa chín vàng rực. Nắng chan hoà khắp nơi. Và gió mát lành thổi qua mặt, mơn man trên cơ thể, như những giấc mơ đã rất lâu mới gặp lại.

***
Hôm qua, chuyến xe khách cuối cùng đổ bố con tôi xuống bến xe lúc trời đã tối. Cả thị trấn tối mò mò, chỉ vài ánh điện nhập nhoà hoà với ánh nến. Điện đã mất trước đó vài chục phút. Trên đường về nhà, tôi đi qua một đám ma. Im ắng, chỉ có tiếng người nói chuyện xì xào, không kèn không trống. Trong nhà, trên bàn thờ và trên cỗ quan tài, những cây nến đỏ phập phù leo lét, chiếu một thứ ánh sáng vàng ma quái, nhuộm thêm màu tang tóc cho chiếc quan tài màu đỏ. Ngoài cổng rạp, vài người đàn ông đang hồ hởi dong về một cái máy phát điện loại nhỏ. Một cứu tinh cho nhà có đám trước những ẩm ương của ngành điện.

***
Hai bố con bước vào khoảnh sân ngập ánh trăng trung tuần. Thứ ánh trăng không vằng vặc nhưng bàng bạc, lan ra mọi chỗ có thể, lấn át mọi thứ khi điện đã mất. Một thứ ánh sáng đẹp và thuần khiết, không bị xâm lấn bởi ánh đèn công nghiệp. Ông bà ra đón tận sân, thằng nhóc oà lên niềm vui lâu ngày mới gặp lại ông bà. Còn tôi vui, một phần vì tôi biết đêm nay sẽ có một đêm trăng đẹp. Niềm vui của tôi không còn như niềm vui con trẻ. Nó là một cái gì đó sâu thẳm bên trong, vẫn như mọi khi, chỉ ngồi lặng lẽ bên hiên nhà.

****
Cả nhà dọn bữa tối ngay ngoài hiên. Bữa cơm đạm bạc nhưng ngon miệng. Tôi cho rằng đây là một sự tiến bộ của hai ông bà. Không còn cảnh mổ gà rồi bày biện như mọi khi. Chỉ là tôm rang, trứng tráng, rau đay và mướp nấu cà da, ăn kèm với cà muối. Suốt bữa ăn, giữa những chuyện trò nho nhỏ là nỗi nhớ. Nỗi nhớ về người mẹ xấu số, người đã bỏ ba bố con tôi đi về thế giới bên kia đã hơn hai chục năm. Mâm cơm đạm bạc ngoài hiên có lẽ là một chất xúc tác tuyệt vời để tưởng nhớ bà. Nó giống như tôi đang ăn một phần ký ức của chính mình. Tôi ăn tuổi thơ tôi.

****
Sau bữa tối thì cũng đã muộn. Tôi bưng ra giành nước chè và bát điếu thuốc lào cho bố. Vẫn là cái bát điếu mà thời còn nhỏ tôi đã rửa cho ông không biết bao nhiêu lần ngoài bến sông. Cái bát sắt tráng men có vài chỗ đã vỡ, lộ ra những mảng đen như những vảy ốc. Cái bát điếu mà tôi nghĩ rằng, sau này khi sưu tập lại những kỷ vật của ông, nó phải là một phần không thể thiếu. Nó là một trong vài thứ lặt vặt khác mà tôi thực sự muốn thừa kế lại, từ ông.

****
Hai bố con ngồi trò chuyện rì rầm trong bóng tối, ngoài hiên, dưới tán cây nhãn. Thành ra bóng tối như tối thêm. Đèn trong nhà đã tắt hết. Trăng thì đã đi đâu mất. Thứ ánh sáng duy nhất là chấm đỏ của điếu thuốc lá tôi hút. Thỉnh thoảng ông rít thuốc lào. Ánh lửa hắt lên từ que đóm vạch những nét khắc khổ trên khuôn mặt ông. Trong thoáng chốc, tôi chợt thấy ông trong dáng ngồi và khuôn mặt, như một vị la hán gầy guộc nhưng thanh thản. Tôi thấy mừng. Ông kể ông đã lo xong những việc lớn. Gia phả dòng họ ông đã hoàn thành. Ông cũng đã lo xong mộ phần cho ông bà tổ tiên, và cả cho chính ông nữa. Bát họ ông "chơi" từ năm ngoái đã giúp ông lo xong cỗ quách cho bố ông, tức là ông nội tôi. Chỉ đợi đến cuối sang năm là sang cát, cũng là lúc ông hoàn thành nghĩa vụ làm con của mình. 

Ông năm nay đã bước sang tuổi sáu mươi tư. Ông tự hào vì mình vẫn còn uống được rượu, không nhiều, nhưng đều đặn. Và vẫn còn răng để gặm được xương, "chứ không như lão Giảng bên khu Hai, nhà giàu thế nhưng giờ phải uống rượu với cháo". Ông kể với một chút đắc ý. Ông cũng vui vì vẫn còn nhiều người gửi rượu cho vào các dịp lễ tết trong năm, "rượu gì cũng có". Tôi chợt nhớ giấc mơ thưở hai mươi của Paul McCartney trong bài "When I'm sixty four":

"When I get older losing my hair
Many years from now,
Will you still be sending me a valentine
Birthday greetings bottle of wine?"

Ông không biết bài hát này, cũng không biết Paul là ai. Tôi cũng không biết ông có điều ước nào tương tự thế hay không, nhưng ông bảo ông cảm thấy sướng vì giờ "chẳng phải làm gì", "suốt ngày ăn rồi ngồi nhìn cánh đồng". Ông tự trào cái cảnh ăn không ngồi rồi của mình như vậy. Cả hai bố con cùng cười.

Còn tôi, tôi muốn gì khi tôi sáu mươi tư tuổi nhỉ? Trong vô vàn những ước mơ thường nhật, vẫn phải có chỗ cho một ước mơ nhỏ nhoi: đến tuổi đó, tôi vẫn còn được trải chiếu, mắc màn ngủ ngoài hiên trong một đêm hè. Như đêm qua.


IMG_0680

IMG_0683

IMG_0685

IMG_0706

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2011

Wrap&Roll

Đang thèm món cuốn thì viết vậy thôi, chứ thực ra là đóng gói lại và di chuyển.

Cái cảm giác đóng gói lại mọi thứ, dù biết rằng là để cho một tương lai tốt hơn, nó vẫn cứ man mác một cảm giác gì đấy không cắt nghĩa được. Nhưng hẳn là có một chút buồn trong đó. Đóng gói lại cả một nếp sinh hoạt kéo dài trong tám năm cũng không phải là một chuyện dễ dàng. Vì vậy vẫn có chút gì đấy dùng dằng, không dứt khoát.

Sẽ rất nhớ mái nhà nhỏ xinh này, nơi khởi đầu cho một chuyến hành trình đã được tám năm của một gia đình nhỏ.

Sẽ sớm quay trở lại, nhưng khi đó mọi thứ đã thay đổi rồi. Cái cố gắng cần giữ lại, là nếp nhà. Có nếp nhà rồi thì mọi thứ cũng coi như không có gì gián đoạn mà sẽ là một sự tiếp nối tự nhiên.

Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Ước mơ chốn thị thành

Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.

Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.

Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:

“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”

Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:

“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.

Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.

Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”

Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Kiêng khem - Márai Sándor

Không nên quay về những căn phòng cũ, dù ta đã từng hạnh phúc hay bất hạnh trong những căn phòng ấy. Không nên gặp lại những người xưa mà cách đây mười hay hai mươi năm, ở một thời điểm trưởng thành nào đó, chúng ta đã từ biệt họ. Hãy lịch sự trả lời thư bạn cũ, nhưng đừng hẹn gặp, nhất là bạn gái cũ thì càng không nên. Không nên tới đám ma. Không được để mình bị lôi cuốn vào những rắc rối của những cuộc đời xa lạ mà xét cho cùng mình chẳng hề có liên quan gì. Không nên nhìn lại những gì đã qua.

Nhưng tất cả điều đó không có nghĩa là sự không thuỷ chung, cũng không phải sự lãnh cảm với con người. Đó chỉ là sự kiêng khem, không là gì khác. Tâm hồn cũng không chịu nổi đồ ăn đã hư hỏng, thối rữa; hãy nuôi dưỡng tâm hồn bằng vitamin, những hương vị mới, tươi mát. Hãy yêu con người, nhưng hãy chú ý và thận trọng với những sự vụ đáng ngờ của họ. Hãy thương họ, nhưng phải nghĩ rằng nước mắt bạn là dành để nhỏ xuống cho số mệnh người thân yêu của bạn. Hãy thân thiện với thế giới, nhưng hãy biết rằng bạn không thể thay đổi những quy luật của nó - thế giới là vô vọng - và đừng hòa nhập vào đám tang của sự lo âu và than vãn. Hãy biết kiêng khem cho cả thể xác và tinh thần, không phải để kéo dài cuộc sống, cuộc sống không thể đo bằng thời gian. Hãy kiêng khem để có thể sống nhiều hơn và sống thực hơn. Hãy gìn giữ thứ gia vị của đời sống, và đừng ăn quá nhiều gia vị.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2009

Viết ở Givral, bên cửa sổ (*)

Tôi không nhớ mình bắt đầu được biết cái tên Givral từ khi nào, nhưng chắc chắn là phải lâu lắm rồi, kể từ khi tôi được học những bài lịch sử đầu tiên về Sài Gòn và chiến tranh giải phóng miền Nam.

Những ấn tượng về Givral càng trở lên sâu đậm hơn khi tôi bắt đầu được đọc những dòng đầu tiên về Phạm Xuân Ẩn – vị tướng tình báo lừng danh mà tên tuổi của ông chỉ được nhiều người biết đến vào những năm cuối đời, khi ông đã sắp từ giã cõi đời sau những cơn bạo bệnh. Một người, như nhà văn, nhà báo Nguyễn Thị Ngọc Hải đã viết, là “tên người như cuộc đời”. Ông đã “Ẩn” mình suốt gần như cả cuộc đời, nhưng một trong những nơi chốn mà ông hiện diện thường xuyên nhất, gần như là trong suốt sự nghiệp lẫy lừng của ông, là tiệm cà phê Givral này. 

Say mê con người ông, tôi đâm ra say mê Givral, mặc dầu chưa từng đặt chân đến. Cộng với cái thú lang thang cà phê cà pháo, tôi đã đặt Givral đứng số 1 trong top ten các tiệm cà phê cần phải đến trong đời.

Và đây, trong một buổi sáng Sài Gòn không nắng không mưa, không nóng không lạnh, tôi đã hiện diện ở nơi này, và ngập chìm trong không khí của Givral – một trong những tiệm cà phê nổi tiếng và lâu đời nhất ở vùng đất phương Nam này.

Trước khi đến, tôi đã định bụng dành cả buổi sáng ngồi ở Givral để kết thúc nốt một vài việc còn dang dở. Tôi ngồi đó với chiếc máy tính quen thuộc, wi-fi đã sẵn sàng, nhưng tôi không thể tập trung mà làm việc được. Cà phê rất ngon (nhược điểm duy nhất là hơi nhiều đá), Lucky Strike thì rất thơm, và nhạc thì rất hay. Còn tôi thì bắt đầu bỏ ý định làm việc vào sáng nay.

Quán không lớn nên không có nhiều lựa chọn, tôi đành ngồi một chỗ ngay lối vào. Khung cửa sổ lớn như một bức tranh mở ra trung tâm thành phố. Ngoài kia là Nhà hát Lớn với hai hàng cây sao thẳng tắp, cao vút. Kế bên là Caravelle Hotel cũng nổi tiếng một thời. Và, một quảng trường tấp nập người xe. Nếu như không có cây cột điện nơi góc đường, kể như tôi đã có một bức tranh hoàn hảo qua khung cửa sổ.

Ngồi cà phê bên khung cửa sổ lớn mở ra một không gian đẹp luôn là một trải nghiệm tuyệt vời. Chỉ tiếc là không chia sẻ được trải nghiệm đó với một người cũng rất đam mê cà phê là vợ tôi, vì tôi chỉ đang ngồi đó, một mình.

Tôi đã gọi đến ly nâu đá thứ hai, một ngoại lệ chưa từng có trong cả đời uống cà phê của mình.

Và bắt đầu nghĩ, sẽ là một mất mát lớn cho đất Sài Gòn, nếu một ngày nào đó, vì một lý do nào đó, Givral không còn tồn tại nữa.

Bạn bè thường hỏi tại sao tôi lại hút Lucky Strike. Mỗi lần như vậy tôi thường chỉ cười và chống chế bằng câu trả lời quen thuộc: “Just because, I need some lucky”. -:). Nhưng sự thực không phải như vậy. Ngoài việc Lucky là loại tôi thấy hợp nhất, trong số rất nhiều loại thuốc lá đã từng thử qua, còn có một lý do quan trọng khác: đó chính là loại thuốc mà ông Ẩn đã hút suốt cả cuộc đời, với cách hút, cũng do người Mỹ dạy. Đối với một người làm nghề như ông, Lucky quả là cần thiết, xét theo cả hai nghĩa đen và bóng của từ này. (**) Do vậy, hẳn các bạn phải biết tôi đã thoả mãn thế nào khi được ngồi đây, với ly nâu đá thứ hai đã gần cạn, và đã là điếu Lucky Strike thứ ba. 

Để kết thúc một buổi sáng đáng nhớ ở Givral, tôi muốn các bạn biết thêm rằng, tôi thật là “ghen tị” với anh Quốc Bảo – một người mà tôi rất mến mộ - vì anh có thâm niên ngồi Givral tới mấy chục năm ròng. Cái chuỗi mấy chục năm đó đã được bắt đầu, như anh đã có lần hé lộ, từ lúc anh mới... sáu tuổi. Không biết ở đất Sài Gòn này, còn có người nào khác may mắn như anh không?

Và tôi ước, một ngày nào đó, bên cửa sổ Givral này, sẽ có hai người ngồi cà phê ngắm quảng trường Nhà hát. Ngồi đó, lặng yên, mà không cần nói câu nào./.

(*) Viết ở Givral, nhưng post ở Hi-End, vì wi-fi ở Givral hơi tệ. Một điểm trừ cho Givral,-:)

(**) Trong Lời nói đầu của cuốn "Điệp viên hoàn hảo" mà Larry Berman viết về ông Ẩn, có những dòng như thế này: "Ông Ẩn là một người cực kỳ mê tín. Từ năm 1955 ông đã bắt đầu hút loại thuốc lá Lucky Strike. Khi đó, một người bạn Mỹ của ông đã dạy ông cách nuốt khói, đồng thời đảm bảo với ông rằng Lucky Strike sẽ mang đến sẽ mang đến cho ông nhiều may mắn (***). Phạm Xuân Ẩn nói: "Tôi đã hút thuốc lá 52 năm rồi. Giờ đây tôi đang phải trả giá cho điều đó. Hút thuốc lá liên tục trong từng ấy năm mà tôi chỉ bị bệnh phổi trong có 3 năm là thắng lợi chứ". Phạm Xuân Ẩn ngồi Givral nhiều đến nỗi ông còn được gọi là Tướng Givral (General Givral).

(***) Lucky Strike đã từng được quảng cáo như thế này: Be Happy, Go Lucky!

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009

Memories of Tomorrow hay là những Hoài niệm về một mái hiên

Hà Nội đang trải qua những ngày hè nóng chưa từng thấy. Gần nửa đêm, bước ra khoảng sân nhỏ bị vây kín bởi bê tông và nhà cao tầng, vẫn thấy cái nóng hầm hập như đốt lửa quanh người. Trời đầy sao và không một cơn gió. Cái tĩnh lặng của đêm thì phải nhường chỗ cho những âm thanh rầm rì của dàn đồng ca phát ra từ vô số cục nóng điều hoà.

Chợt nhận ra cái vòng luẩn quẩn trong việc gìn giữ môi trường: phá huỷ-biến đổi khí hậu-chống chọi với biến đổi khí hậu bằng cách làm gia tăng biến đổi khí hậu, mà điều hoà là một ví dụ.

Trở lại với căn phòng kín bưng, với thứ không khí lạnh ngắt và khô khốc thổi ra từ cái điều hoà, chợt nhớ quay quắt một mái hiên những đêm hè của một thời chưa xa, nhưng đã là thời xưa cũ, như tên một album của Bob Dylan: Time out of Mind.

Đó là một hàng hiên rộng, láng ximăng trước ngôi nhà tranh giản dị, được dựng lên bằng ba cái cột tre.

Vào mùa hè, bố tôi làm một cái phản tre kín gần nửa cái hiên, chỉ đơn giản bằng cách kê mấy cái lạch giường bằng tre lên bốn viên gạch xỉ ở bốn góc. Trên cùng là mảnh chiếu cói. Đó là những thứ đặc trưng của cái nghèo mà trớ trêu thay, ngày nay được gọi bằng cái tên mỹ miều là “vật liệu thân thiện môi trường”- những thứ được giới kiến trúc sư cấp tiến ngày nay ra sức quảng bá và lăng xê thuyết phục giới nhà giàu quay lại sử dụng trong các công trình kiến trúc đương đại. Tất nhiên, dưới những hình thức khác và chi phí khác với thời bố tôi. Nhưng đó là chuyện khác. 

Bố con tôi thường trải qua hầu hết những giấc ngủ đêm hè trên cái phản tre đó, trừ các đêm mưa. Suốt những năm tháng tuổi thơ của tôi, ngủ ngoài hiên đã trở thành một cái thú mà sau này, như giờ khắc này chẳng hạn, đã trở thành nỗi thèm nhớ khôn nguôi.

Ngủ ngoài hiên mát hơn rất nhiều so với trong nhà, mặc dù quây quanh bố con tôi là một cái màn “diềm bâu” – loại màn mà không khí cũng khó lọt vào chứ đừng nói là muỗi. Những hôm nóng quá, trước khi đi ngủ, hai bố con thường xuống tắm ở con sông nhỏ trước nhà, cách mái hiên chỉ một con đường đất nhỏ. Đó cũng là nơi mà lúc mới lúc chiều mẹ tôi và những người hàng xóm vo gạo, rửa rau để nấu bữa cơm tối, nơi người ta giặt giũ, múc nước về để sinh hoạt hàng ngày. Nhưng là một dòng sông không ngừng chảy, chúng tôi chẳng thấy những cái đó làm bẩn dòng sông, cũng như không ai cho rằng việc tắm táp của chúng tôi nơi đó làm bẩn nguồn nước sinh hoạt của họ. Đó cũng là lý do vì sao sau này học triết, tôi không cần nghe thầy giảng đến lần thứ hai đã hiểu ngay câu nói: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, cho dù tôi đã tắm không biết bao nhiêu lần trên chính đọan sông đó.

Tôi nhớ những đêm trăng, vùng vẫy trong dòng nước phù sa mát lạnh, mặt nước loang loáng ánh trăng, tạo nên một thứ màu sắc kỳ ảo đầy huyền hoặc, tôi cứ ngỡ mình như những chú bé chăn trâu trong chuyện kể của bà nội, vui sướng và không vướng bụi âu lo. Tôi cũng cứ ngỡ nước phù sa và ánh trăng đã cho tôi một đêm ngủ ngon mà không biết rằng bố tôi đã phải quạt cho tôi ngủ đến rã cả tay bằng cái quạt nan do ông tự đan lấy mỗi khi hè đến.

Tôi nhớ đến nhiều đêm tỉnh dậy, thấy loang loáng ánh đèn pin của những người đi câu ếch ban đêm ở cánh đồng gần nhà, những thì thầm chuyện trò giữa họ, tôi đã tưởng là ma mà nằm im không cựa quậy.

Tôi nhớ, có những lần nửa đêm phải choàng dậy, cuống cuồng cùng bố dỡ màn gấp chiếu chuyển vào trong nhà vì trời chợt mưa vào nửa đêm. Cũng rất thường khi khi tôi tỉnh dậy vào sớm mai thì thấy mình đang nằm trong nhà vì đêm qua mưa nhưng tôi ngủ say quá, bố đã bế tôi vào mà không gọi dậy.

Và cũng rất nhiều khi, khi thức dậy dưới ánh mai, tôi chỉ còn một mình vì bố đã đi chợ từ rất sớm. Có lẽ, từ lúc những người đi bắt ếch đêm đã xong việc trở về nhà.

Ngủ ngoài hiên cũng có những trải nghiệm rất lạ, là tôi thường mơ màng tỉnh dậy trong tiếng lao xao của những người đi chợ, đi làm đồng buổi sớm. Và rất thường khi, người gọi tôi dậy không phải là bố mẹ mà là bác hàng xóm tốt bụng. Đó là những thứ không thể có được nếu ngủ ở trong nhà.

Những giấc ngủ ngoài mái hiên dẫn tôi đến với nỗi nhớ về chính mái hiên lợp bằng lá cọ mộc mạc ấy.

Đó là nơi bọn trẻ con chúng tôi quây quần chơi ô ăn quan, là nơi tôi kỳ công chặt những mẩu tre rồi hý hoáy khắc nên đó những tốt, xe, hậu, tướng, mã – bộ cờ vua đầu tiên trong đời. Đó cũng là nơi tôi kỳ cụi đục đẽo mài khoáy nên hàng trăm viên bi đá đủ sắc màu: đen, trắng, hồng, xanh, vằn, chấm,... Đó cũng là nơi tôi biến mái hiên thành bàn bóng bàn, với lưới chỉ là một thanh tre đặt lên hai viên gạch – một cái bàn mà đánh năm quả thì phốt tới bốn vì cái nền xi măng láng không được phẳng. Là nơi tôi có những xúc cảm đầu tiên với hội hoạ, khi nhìn ngắm những con rồng, những bông hoa được khắc trên cái cột tre của mái hiên bởi hai anh học cấp ba trọ ở nhà tôi.

Đó cũng là nơi mà tôi đã trải qua bao vui buồn chiến công và thất bại của những dế mèn, mèo con, Mai An Tiêm, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới, 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc hay ba anh em kết nghĩa vườn đào. Khi lớn lên một chút, đó cũng là nơi tôi nghiền những bộ tiểu thuyết đầu tiên, từ Không Gia Đình của văn học lãng mạn Pháp cho tới thể loại văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa của Nga như Sông Đông Êm Đềm, Đất Vỡ Hoang,.... Vào thời đó, chắc chẳng có gì tuyệt bằng việc ngồi trên cái sạp tre dưới mái hiên, vừa say sưa với 72 phép thần thông của Tề Thiên Đại Thánh, vừa nhấm nháp đến hết sạch cả rá dâu da chín hái từ cái cây chỉ cách mái hiên hai bước chân.

Đó cũng là nơi tôi được thưởng thức những món ăn quê mùa do mẹ tôi nấu vào những bữa cơm chiều, những món ăn mà bây giờ chỉ còn là hoài niệm. Nơi đó diễn ra những bữa tối, dưới ánh đèn dầu, với sự chứng kiến của hàng xóm và người qua đường, và, đã thành thông lệ, ngoài việc mời bố mẹ ăn cơm, chúng tôi còn phải mời cả cô chú bác anh chị hàng xóm, và không ít khi, là cả những người qua đường, những người sau đó thường nói, “Ồ, nhà bác hôm nay có món dưa ngon thế” hoặc “Bà... mua con cá ở đâu mà to vậy”. Đại loại thế, một bữa ăn giữa bàn dân thiên hạ mà sự công khai của nó có khi còn hơn cả bữa ăn của Obama trong Nhà Trắng bây giờ.

Đó cũng là nơi bố tôi ngồi đan những lá cót lấy công làm lãi, là nơi tôi đang những cái áo cối để bán và có được những đồng tiền kiếm được đầu tiên trong đời, là nơi sau này tôi ngồi kỳ cụi dán hàng nghìn cái túi giấy nho nhỏ để bán cho hiệu thuốc tây của thị trấn trong kỳ nghỉ hè. Đó cũng là nơi tôi thường lục cái thúng của mẹ tôi mỗi khi bà đi chợ về, thế nào cũng có khi thì cái bánh đa, khi thì vài khúc mía, hoặc mấy quả táo xoan đựng trong cái ống bơ. Quà thì khác nhau, nhưng bao giờ cũng có một điểm chung: chúng luôn luôn dính lấm tấm những hạt cám gạo, vì cám là món hàng mẹ tôi bán ở chợ, là thứ đã mang đến những đồng tiền để mẹ tôi không chỉ mua cho tôi những đồng quà tấm bánh đó mà còn nuôi sống cả gia đình.

Nhưng cũng chính mái hiên đó cũng là nơi đặt quan tài của mẹ tôi ngày bà nói lời vĩnh biệt cõi trần để đi gặp tổ tiên và ông bà ngoại tôi, là nơi bà nội tôi vật vã khóc than người con dâu xấu số của mình, là nơi sau đó bố tôi ngồi mỗi buổi chiều, mắt xa xăm mong ngóng một ai đó trở về, là nơi tôi thu mình trong nỗi đau câm nín không nói thành lời. Những bữa cơm chiều vẫn diễn ra dưới mái hiên ấy, nhưng bốn người nay chỉ còn ba. Tối tối, bố tôi vẫn bày ra cái phản tre bộ đồ trà và cái điếu thuốc lào. Hàng xóm vẫn đến nhưng cũng chẳng biết nói gì, chỉ lặng lẽ uống nước, hút thuốc rồi ra về.

Sau đó không lâu, cái mái hiên chỉ còn một nửa. Bố tôi đã phải bán đi một nửa cái nhà để trang trải nợ nần những ngày mẹ tôi nằm bệnh. Nó cũng được xây cao hơn, nhưng cột thì vẫn bằng tre, và vẫn sinh hoạt dưới cái mái hiên đó.

............

Đó cũng là nơi hàng xóm đến mừng cho tôi trước ngày tôi xa quê để đi học đại học. Là nơi họ chào tôi với những ánh mắt ái ngại, tay dúi cho tôi những đồng 10 nghìn, 20 nghìn chắt chiu từ những khó nhọc mưu sinh. Sáng hôm sau tôi ra đi mà không biết rằng tôi đã mãi rời xa mái hiên đó, cho đến tận bây giờ.

Sau này nhà tôi cũng chuyển đi chỗ khác. Khi xây ngôi nhà mới, tôi và bố đã làm một mái hiên thật rộng. Một bên là cánh đồng mênh mông, nhìn ra trước mặt là một khoảng sân và một cái vườn rộng. Nó qủa thực đẹp hơn mái hiên xưa rất nhiều. Nhưng mái hiên đó không còn nhiều kỷ niệm như cái mái hiên đã mất. Nó chỉ còn là lời nhắc nhở rằng có một cái gì đó đã vĩnh viễn mất đi không thể trở lại và là nơi chứng kiến sự đơn côi của bố tôi lúc tuổi già. Ông giờ đây không đủ khoẻ để có thể ngủ ngoài hiên như xưa, dù trời bây giờ nóng hơn rất nhiều. Tôi gọi điện về hỏi thăm, ông nói: Có, buổi tối vẫn ngồi ngoài hiên, ngó vào trong nhà xem tivi qua cửa sổ.

(*) Thật trùng hợp khi hôm nay lại đúng là Father’s Day của Mỹ (21/6).

(**) Thực ra ý tưởng của bài viết này đến không chỉ do một đêm Hà Nội quá nóng, mà còn do một bản solo piano của Keith Jarrett: Phần 1 trong buổi trình diễn độc tấu piano của ông mang tên The Koln Concert. Bản nhạc này sau đó đã được đặt tên là Memories of Tomorrow. Tôi cũng xin lấy cái tên đó để đặt cho tản văn này.



Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Hoài niệm Huế (1)

Chúng tôi dự định đi Huế từ thời còn chưa cưới nhau. Chương trình cũng đã được lập sẵn, nhưng sau đó đã phải huỷ bỏ, vì nhiều lý do. Lúc đó, tôi không nghĩ cái sự hoãn lại đó lại kéo dài đến thế. Vậy mà phải đến khi thằng lớn đã lên 5, còn cậu nhóc thứ hai đã lên 3 tuổi, dự định đi Huế của chúng tôi mới trở thành hiện thực.

Háo hức, do đó, là chuyện đương nhiên. 

Từ trước ngày lên đường cả nửa tháng, bà xã đã treo lên blast ước vọng được ngồi cà phê ở Huế. Chúng tôi còn cùng nhau lên một lịch trình chi tiết cho chuyến đi, ngày nào, giờ nào, làm gì, ăn gì, ở đâu, di chuyển như thế nào,... có lẽ còn chi tiết hơn tất cả những lịch trình công tác mà tôi đã từng lập trước đó. Vẫn biết sự tự do là mục đích tối thượng của mỗi chuyến đi, chúng tôi vẫn gò ép mình vào một lịch trình chi tiết như vậy, để có thể tận dụng được hết quỹ thời gian hạn hẹp của kỳ nghỉ. Cũng biết rằng có nhiều bất ngờ đang đợi mình phía trước, chúng tôi vẫn muốn biến lịch trình đó thành một quỹ đạo riêng, và dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng sẽ không để chệch quá xa quỹ đạo của mình. Có lẽ với ngân sách dồi dào và khoảng thời gian là nửa tháng, chúng tôi sẽ không bỏ ra, dù chỉ là một phút giây, để làm ra những thứ như vậy.

* * *

Chúng tôi đi chuyến tàu tối, xuất phát từ ga Hà Nội lúc 7h15. Phải đến khi quăng mình vào cái “ghế mềm, điều hoà” và ổn định mọi thứ, từ hành lý lỉnh kỉnh cho tới chỗ ngồi của Tít, thành viên đặc biệt của chuyến đi, tôi mới có cảm giác bỏ lại đằng sau mọi lo toan, bận rộn đìu ríu bấy lâu nay. Tàu chuyển bánh đúng giờ. Chúng tôi xa Hà Nội trong cái dập dình của toa tàu, giữa những âm thanh đay nghiến của bánh tàu xuống đường ray, tiếng vặn cùng cục nặng nhọc ở mỗi khúch quanh, và tiếng loa phóng thanh the thé của nhà tàu, lòng mơ màng đến đích đến thanh bình vào sáng hôm sau: ga Huế.

Chẳng có việc gì đáng kể để làm trên cái toa tàu buồn tẻ, tôi lôi hai cái cuống vé ra ngắm nghía. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra trên đó, người ta chỉ ghi giờ khởi hành mà không ghi giờ đến ga cuối. Là người ít đi tàu, đối với tôi dường như đây là một phát hiện lớn. Tôi nghĩ mãi về điều đó, là vì nếu không có cái giờ đến chính xác, lịch trình của chúng tôi có thể bị xáo trộn. Dựa vào kinh nghiệm về thời gian của những người đã từng đi trước đó, chúng tôi đã dự định sẽ đến Huế vào lúc 8h30 sáng hôm sau, sẽ tụ tập ăn nhanh một tô bún bò quanh ga Huế rồi lên xe dông thẳng vào Lăng Cô. Nếu muộn hơn, vụ ăn sáng bằng bún bò sẽ là điều không thể. Cùng lúc đó, tôi nhận ra rằng việc không in giờ đến ga cuối, suy cho cùng là biểu hiện của sự kém tự tin của ngành đường sắt. Đáng buồn thay, đó lại là sự kém tự tin của một ngành có bề dày lịch sử hơn 100 năm – một trong những ngành đầu tiên của Việt nam được định nghĩa và phân loại bằng hai chữ “công nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ người ta cũng đã nhầm khi phân lọai như vậy. Ngành đường sắt, trên hết phải là một ngành dịch vụ. Tôi đã nghe ở đâu đó nhiều lần rằng, khi đề cập đến sự yếu kém và chậm phát triển của ngành này, người ta đổ lỗi cho việc thiếu vốn. Nhưng vấn đề của ngành dịch vụ, chắc chắn không phải là vốn, mà phải là cái não trạng kinh doanh dịch vụ, một cái business mind hướng về khách hàng – những thứ mà từ tấm vé tàu tôi suy ra rằng lãnh đạo ngành đường sắt không có hoặc vì điều gì đó, họ đã cố tình lãng quên.

Bỏ qua nỗi hoang mang nho nhỏ về thời gian, tôi cảm thấy hơi khó chịu khi thấy mồ hôi bắt đầu rịn ra. Tôi bắt đầu quan sát xung quanh và nhận ra nhiều người cũng đang cùng cảnh ngộ. Mặc dù là toa “điều hoà”, như người ta đã ghi vậy trên tấm vé, nhưng không khí rất nóng vì cái điều hoà đang trục trặc. Chẳng có ai giải thích hoặc có động thái thể hiện là sẽ tiến hành sửa chữa cái trục trặc đó. Chúng tôi tự nhủ rằng chắc ngồi im một lúc, không khí sẽ dịu đi.

Không lâu sau, tôi nhận ra rằng chúng tôi là một thiểu số 3 người đã rơi vào một toa tàu gồm toàn những người làm chung một cơ quan hoặc họ hàng. Họ đã mua vé gần hết toa và giờ đây họ bắt đầu thể hiện sự thân quen của họ như thể họ đang ở trong cơ quan hoặc nhà của họ chứ không phải trên tàu. Có lẽ đối với họ, toa tàu này đích thực là “a home away from home”, như nhiều khách sạn nổi tiếng thường quảng cáo vậy. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là tàu chợ, mặc dù cái tàu chúng tôi đang đi không phải là tàu chợ, cũng chính là vì chúng tôi đã rơi đúng vào cái chợ vỡ đó. Lúc đó, tôi biết tôi sẽ có một đêm không yên bình.

Giống như những cuộc vui thông thường khác, đám chợ vỡ bắt đầu gầy độ nhậu và đánh bài. Họ tập trung ở giữa toa và bắt đầu cuộc vui bằng những tiếng cụng ly, những tiếng xuýt xoa mỗi khi lỡ đánh nhầm một quân bài, những tiếng cười hô hố hoặc những lời kể lể the thé, những phàn nàn và ức chế trong công việc, những đàm tiếu về người này, người kia, vân vân và vân vân. Minh hoạ cho những âm thanh đó là những dáng người ngả ngốn, những cái bụng phệ bèo nhèo và những khuôn ngực đàn ông lép kẹp trong cái áo ba lỗ, những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười toe toét hết cỡ, những người đàn bà ghé tai nhau thầm thì, và những bắp chân đầy lông lá gác lên thành ghế. Một tay trong nhóm, có lẽ là lãnh đạo ở cơ quan, mặt hơi ửng đỏ, liên tục đi lại, nói năng chỉ đạo hết đám nhậu lại đến đám tá lả. Hắn khệnh khạng nâng ly, ép một tay thuộc hạ phải uống cho bằng hết, rồi lại quay sang nói ông này phải đánh cây này, ông kia phải đánh cây kia, và một ông nào đó đang ở nhà với vợ, lẽ ra phải đi cùng chuyến này mới phải. Hắn gãi bụng xoành xoạch, vén cái áo phông lên tận nách và bắt đầu phàn nàn chửi bới cái điều hoà – lúc này đã mát hơn trước nhưng người hắn đang bốc hoả vì rượu nên cũng chẳng ăn thua gì. Hắn lăng xăng khắp toa tàu để tìm chỗ điều khiển cái điều hoà nhưng không có. Hắn lớn tiếng chửi bới cái điều hoà như thể Chí Phèo đang chửi cả làng Vũ Đại. Rồi cuối cùng hắn thể hiện sự nhanh nhẹn – một trong những “tố chất lãnh đạo” của hắn - bằng cách lôi kéo được tay trưởng toa vào độ nhậu. Tay này sau một hồi zô zô, ngả ngốn, ăn uống nói cười bắt đầu đứng dậy làm nhiệm vụ cao cả của mình là sửa chữa cái điều hoà bị hỏng. Chẳng biết kết quả thế nào nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã thấy mát hơn hẳn, khi cả đám chợ vỡ đã chán bài bạc, rượu đã ngấm và bắt đầu quay ra ngáp vặt hoặc ngáy như kéo gỗ. Cái chợ đã tan khi tất cả những người tham gia họp chợ đã áp dụng tối đa khẩu hiệu “make it your home”. Lúc đó đã là nửa đêm.

Tất cả những cảnh tượng đã qua khiến tôi nhớ đến những đám đông bên Tàu mà tôi đã từng chứng kiến. Nhốn nháo, lộn xộn, nói cười oang oang, chen lấn xô đẩy và “xếp gạch” nơi công cộng, những đặc điểm mà chắc chắn nhà văn Bách Dương đã đưa vào cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” nổi tiếng của mình. Việc quan sát những đặc điểm đó thậm chí còn đem lại cho tôi những niềm vui nho nhỏ mỗi khi có dịp lang thang nơi xứ người. Nhưng giờ đây, tôi không cười được khi thấy người Việt mình cũng “xấu xí” chẳng khác gì người anh em Trung Quốc. Chẳng nhẽ “tương đồng văn hoá” lại có nghĩa là xấu xí như nhau?

Tôi hơi đói nên tìm đến toa “nhà hàng” trên tàu. Toa này tối om, một nhân viên nhà tàu ngồi gần đó nói với tôi là đã hết giờ phục vụ. Bình thường tôi hay mặc áo màu xanh trứng sáo, nhưng hôm nay nhìn gã nhân viên trong màu áo ấy, tôi thấy ghét lạ, thậm chí còn tự nhủ nếu công ty mình may đồng phục thì cũng sẽ không chọn màu này. Tôi thấy lạ một điều là khi còn sớm, mọi người đều đã ăn uống no nê trước khi lên tàu thì các hàng ăn uống lũ lượt qua lại các toa tàu để bán hàng, và chẳng có mấy người mua. Nhưng đến khi họ bắt đầu đói và cần đến cái ăn, đồ uống thì lại chẳng có ai ở đó để đáp ứng, ngoài gã trực toa ngái ngủ trong cái áo đồng phục ngành đường sắt màu xanh trứng sáo và câu trả lời đáng ghét kia?

Cuối cùng, tôi cũng thiếp đi được một lúc. Tôi tỉnh dậy khi tàu dừng lại ở ga Đông Hà. Tàu dừng lại rất lâu, không hiểu để làm gì. Tôi tiếp tục ngủ được trong mệt mỏi và cái đói chưa được thoả mãn. Đến khoảng năm rưỡi sáng thì tôi tỉnh hẳn. Con tàu đang lao đi trong ánh sáng mờ sương của buổi sớm. Lần đầu tiên kể từ suốt cuộc hành trình, tôi nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Những quả đồi trọc, những cánh đồng trống không, xơ xác, thỉnh thoảng mới qua một vài mái nhà xiêu vẹo. Tôi chợt nhận ra rằng, từ Hà Nội, để đến được với những resort sang trọng, những bãi biển xanh tươi nằm dọc miền Trung, người ta vẫn phải băng qua một quãng đường dài của nhọc nhằn và đói nghèo. Nối kết giữa hai đầu của những phù du & phồn hoa phố thị là sợi dây hiện thực của những lam lũ vất vả mưu sinh.

Mọi người bắt đầu thức dậy. Đến khoảng 7 rưỡi sáng thì mọi người lục tục đi ăn sáng. Cỗ máy bán hàng ngái ngủ đêm hôm qua đã bắt đầu hoạt động trở lại. Tôi vẫn mơ màng với vụ ăn sáng bằng bún bò ở Huế nên chẳng mấy mặn mà với đồ ăn trên tàu. Nhưng tôi đã sớm phải vỡ mộng. Dù chẳng có thông báo chính thức gì từ cái loa phóng thanh xoe xoé lẹp bẹp trên tàu, giới thạo tin cho tôi biết tàu sẽ đến Huế rất muộn. Nghĩa là tôi sẽ đến Huế vào giờ chuẩn bị ăn trưa chứ không phải thời gian ăn sáng. Thế nghĩa là những gì tôi lo ngại đã trở thành sự thật. Sau khi check lại thông tin với một vài “đồng phục áo xanh trứng sáo đáng ghét” khác, tôi miễn cưỡng cùng bà xã đi ăn sáng.

Chúng tôi bước vào một toa mờ mịt khói và nhớp nhúa. Chỉ có khoảng 5-6 bàn và tất cả đều ken đặc người. Họ đang xì xụp quanh những hộp mì nghi ngút. Chúng tôi định quay ra thì có một bàn đã ăn xong, đứng dậy nhường chỗ. Chúng tôi rón rén ngồi lên những chiếc ghế cáu bẩn, cố tránh những vệt nước mì nhầy nhụa đang lênh láng trên mặt bàn, chực chờ chảy vào quần áo chúng tôi mỗi khi toa tàu lắc mạnh.

Giống như mọi người, chúng tôi gọi ba hộp mì. Tôi hơi đói nên cái mùi vị từ hộp mì thoạt tiên rất hấp dẫn. Nhưng chỉ sau gắp đầu tiên, tôi đã thấy có gì đó không ổn. Tôi nhìn bà xã, nói “Mì hôi quá”. Người đồng hành của tôi đáp lại, từ tốn và nhẹ nhàng: “Có mùi cứt gián”. Đó đúng là cái mùi hôi mà tôi chưa cắt nghĩa được. “Đốn ngộ” về mùi là thành tích mà tôi đạt được chỉ sau một lời giảng vô cùng ngắn gọn của một “thiền sư” là vợ tôi ngồi đối diện. Cuối cùng thì bữa sáng cũng xong, sau khi vật lộn với  hộp mì nông choèn mà nước cứ chực trào ra bắn lên mặt mỗi khi chúng tôi cúi xuống xực gắp mì. Tôi không hiểu vì cớ gì nhà tàu phải phục vụ thứ mì tôm như vậy, trong khi hàng ngày trên ti vi quảng cáo có không biết bao nhiêu là loại mì khác? Nó còn tệ hơn cả thứ mì cân rẻ tiền nhất mà thời sinh viên chúng tôi phải ăn hàng ngày.

Rồi cuối cùng thì Huế cũng hiện dần ra qua ô cửa, qua những địa danh nghe đặc chất Huế, qua những lăng mộ hai bên đường mà tôi biết qua kiến trúc đặc trưng của nó.

Ga Huế chào đón chúng tôi dưới ánh nắng chói chang lúc hơn mười giờ sáng, chậm gần hai tiếng so với lịch trình dự kiến và không một lời xin lỗi. Ra khỏi ga Huế, cảm giác của tôi như một gã tù được phóng thích và phải đến lúc đó, tôi mới tin rằng hành trình của chúng tôi đã thực sự bắt đầu.

* * *

(Còn tiếp)

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2009

Nỗi sợ hãi đã qua

Mình nghe The Thrill Is Gone lần đầu tiên vào khoảng năm 2000, với bản thu âm trong đĩa B.B. King – the Anthology (*). Đĩa này sau đó đã bị một ông bạn vàng cuỗm mất và mình cũng không mua lại nữa, nhưng bài hát thì mình còn nhớ mãi, vì nó quá hay và ấn tượng. Và mình bắt đầu yêu B.B. King từ ngày ấy. 

Thời đó internet chưa phát triển như bây giờ, và thông tin thì quá ít, mình cứ nghĩ The Thrill Is Gone là của B.B. King sáng tác. Giờ thì mới thấy là mình đã “bé cái nhầm”. Nó được sáng tác bởi Rick Danell và Roy Hawkins vào năm 1951 (hic, vào năm đó ông nội mình cũng mới chỉ bằng tuổi mình bây giờ), nhưng chỉ thực sự trở nên phổ biến vào những năm 1970, nhờ công lao của B.B.

B.B. thu âm bản The Thrill Is Gone vào tháng 6/1969, là một bài trong album Completely Well của ông, được phát hành cùng năm. Cũng tháng 12 năm đó, B.B. phát hành đĩa đơn The Thrill Is Gone, và kể từ đó, bài hát đã trở thành siêu phẩm lớn nhất trong sự nghiệp đàn hát của B.B., và trở thành bài hát “đóng dấu” tên tuổi của ông vua nhạc Blues. Nhắc đến B.B. là nhắc đến tác phẩm này và ngược lại, như kiểu ở Việt Nam mình người ta định nghĩa Honda là xe máy vậy.

Vào năm 1998, bản thu âm The Thrill Is Gone đã mang lại cho B.B. giải Grammy Trình diễn nhạc R&B hay nhất (nam) và Grammy Hall of Fame (**). Bản thu âm của B.B. cũng đứng thứ 183 trong danh sách 500 bài hát hay nhất mọi thời đại do tạp chí the Rolling Stones bình chọn.

Những lần trình diễn The Thrill Is Gone đáng nhớ nhất của King gồm có: Live in Cook County Jail (1971), (Trình diễn trong nhà tù Quận Cook các bác ạ, mấy tay phạm nhân đó đúng là sướng hơn ở ngoài, nếu xét riêng đêm hôm đó), Bobby Bland and B.B. King Together Again... Live (1976), và Live at San Quentin (1991). San Quentin cũng lại là một nhà tù nữa (***). Trong đời mình có lẽ B.B. đã trình diễn The Thrill Is Gone tới hàng nghìn lần, nhưng không hiểu cái gì trong nhà tù đã đem lại cho King nhiều cảm hứng để “phiêu” đến như vậy, để có tới hai trong số ba buổi trình diễn đáng nhớ nhất của ông về bài này đều là được thực hiện trong nhà tù? Có lẽ ông muốn các phạm nhân xua tan sự sợ hãi, rằng hãy cứ làm lại cuộc đời đi, để mỗi người nơi đó, sau khi bước ra khỏi cánh cổng sắt của nhà tù thì “the Thrill Is Gone”?

Nghe B.B. King đàn hát đã thấy hay, nhưng được xem ông trình diễn còn thấy hay hơn nhiều. (Tất nhiên mình vẫn thiên về quan điểm nghe/xem=90/10, nghĩa là nghe nhạc chứ không phải xem nhạc). Cái cách ông nháy mắt với ban nhạc, với khán giả, như muốn hỏi điều gì đó, rồi cơ mặt biến đổi liên tục cũng là một “bản sắc” riêng của B.B. King. Do tiếng đàn của ông ngân nga nhiều, tay trái của B.B. phải lắc liên tục, giống hệt như mấy bác Việt Nam nhà mình lắc cần đàn bầu. Nghe ông thấy hay, còn xem ông biểu diễn thì thấy vui (tất nhiên, có cả sự ngạc nhiên, amazing nữa), mới thấy nhạc blues không chỉ là nỗi buồn, mà còn là niềm vui.

(*) B.B. King có tên thật là Riley B. King, sau này khi chơi nhạc trên radio người ta mới gọi ông là Blues Boy King, viết tắt là B.B. King, cũng là để tôn vinh ông như một ông vua nhạc blues. Ông sinh ngày 16/12/1925, nghĩa là cũng đã thọ đến tuổi 85, tính theo kiểu Việt Nam.

(**) Đấy là chỉ riêng năm 1998 với bản thu The Thrill Is Gone, chứ trong cả sự nghiệp ca hát của B.B. tính đến nay, cụ đã "rinh" về tổng cộng 18 giải Grammy các loại.

(***) San Quentin cũng lại là một nhà tù nữa các bác ạ. Mình biết vậy nhờ cách đây mấy ngày có đọc được tin ông thống đốc hiện tại của bang California, tay diễn viên cơ bắp Schwarzenegger, đang dự định bán nhà tù này để bù đắp cho thâm hụt ngân sách của tiểu bang(hic). Đó không phải là chuyện đùa vì xem trên ảnh thì nhà tù này quả thật là món bất động sản tuyệt vời: nó ở một vị trí đắc địa và đẹp hơn cả một toà lâu đài trong cổ tích. Tuy vậy thấy Schwarzenegger làm thế cũng là liều lĩnh vì San Quentin không chỉ là một nhà tù mà còn là một địa điểm có tính biểu tượng của California.

Dưới đây là một số versions của The Thrill Is Gone.

Bản “basic”, B.B. “song ca” cùng chính cây guitar của ông.


Bản chơi cùng Eric. Xem cái này mới thấy giữa Eric & B.B. đã có một lịch sử hợp tác lâu dài, chứ không phải đến tận năm 2000 khi hai ông cho ra một CD kinh điển khác, Riding with the King. Hôm nào rảnh mình sẽ viết riêng về CD này. Ngạc nhiên hơn là version này còn có sự đóng góp của Phil Collins, người mà không nói ra ai cũng biết là tay trống kiêm ca sĩ của Genesis. Không biết thời này Phil đã tách ra solo chưa hay vẫn còn trong nhóm.

 

Bản chơi cùng Gary More. Không thể nào tuyệt vời hơn. Unbelivable. So Amazing. Bản tiêu chuẩn của The Thrill Is Gone chỉ có 3:38, nhưng nhờ có đoạn improvision giữa B.B. và Gary mà bản nhạc đã kéo dài tới gần 9 phút. Một sự phối hợp tuyệt vời, trong đó Gary đã thể hiện sự kính trọng “đàn anh” đến mức nào khi tung hứng và đệm cho B.B. từng câu một. Đoạn song tấu giống như B.B. đang dạy cho Gary chơi đàn, còn Gary thì thể hiện như là một học trò “bậc thầy”. Nói thêm: Gary Moore là người rất nổi tiếng với bài Still Got the Blue.

 

Bản chơi cùng Tracy Chapman. Tracy là ca sĩ được rất đông các bạn Việt Nam mình biết đến qua bản Baby Can I Hold You. Bản thu âm The Thrill Is Gone này mình được nghe lần đầu qua đĩa Dueces Wild – một CD mà trong đó, ngoài Tracy, B.B. đã cộng tác với rất nhiều tên tuổi khác như Willie Nelson, Joe Cocker, Van Morrison, David Gilmour, Rolling Stones,... Ở version này Tracy là người hát chính, B.B. chỉ đệm đàn. Tiếc là không được nghe và xem Tracy chơi guitar thùng trong bản này.


Zobacz więcej na www.streemo.pl

Và đây, một siêu phẩm khác, không phải gắn với tên tuổi của King of the Blues mà là của ban The 45’s – một ban nhạc mình mới nghe lần đầu. Nhưng chắc chắn sẽ phải tìm hiểu để nghe nữa, vì đó là lần đầu “sét đánh”: chết ngay từ lần nghe đầu tiên. Nghe The Thrill Is Gone phối theo kiểu jazz, vừa lạ vừa tuyệt, mới thấy jazz & blues gần nhau đến mức nào.

 

Về lời của bài hát, mình thích nhất là mấy câu này: "And now that it's over, all I can do is (to) wish you well"; "although I'll still live on, but so lonely I'll be", "Someday I know I'll be over it all baby, just like I know a man should".

Còn đây là full lyrics:

The thrill is gone / The thrill is gone away / The thrill is gone baby / The thrill is gone away / You know you done me wrong baby / And you'll be sorry someday. 

The thrill is gone / It's gone away from me / The thrill is gone baby / The thrill is gone away from me / Although I'll still live on / But so lonely I'll be.

The thrill is gone / It's gone away for good / Oh, the thrill is gone baby / Baby its gone away for good / Someday I know I'll be over it all baby / Just like I know a man should. 

You know I'm free, free now baby / I'm free from your spell / I'm free, free now / I'm free from your spell / And now that it's over / All I can do is wish you well./.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Bài thơ về một chốn thân quen


Những quán nước chè

Hà Nội
Những quán nước chè vỉa hè
Đã có mắt nhìn như những mụn cóc

Cạnh cà phê máy lạnh cửa gương ba mươi nghìn một cốc
Quán nước chè
Mùi điếu cày hăng hăng
Chén da lươn nghi ngút hương chè Thái Nguyên
Những tờ một nghìn nhầu nát
Khách qua đường lạ quen
Ngồi đồng hay ghé vào chốc lát.

Quán nước chè
Bà chủ quán ghi số đề
Thông tấn xã vỉa hè
Râm ran chuyện đổi tiền trước khi Nhà nước thông báo chính thức
Xả van ngôn ngữ đặc sản Hà thành lan truyền khắp nước
Người dân nghiện luận bàn thế sự Đông Tây
Bí sử thâm cung vanh vách
Bác xích lô làm ngạc nhiên cả giáo sư uyên bác.

Nhà sử học mộng du văn hoá vỉa hè
Thời hoà nhập nhưng quyết không hoà tan bản sắc
Văn hoá vỉa hè
Cổ như phố cổ.

Rầm rộ những đợt ra quân
Tự vệ, công an dọn dẹp lòng lề đường
Buôn gánh bán bưng
Và những quán nước chè
Cứ như chưa bao giờ bị xua đuổi.

Thủ đô mình đã rộng nhất thế giới
Thôi thì cứ vui đi, cứ mơ ngày tráng lệ nguy nga
Nhưng bây giờ, ngay bây giờ, biết còn đến ngày xa
Dọc những con phố, bến tàu, bến xe
Những quán nước chè…

--------------

Hà Nội, 5/2009

Vũ Duy Chu

Q: Xa Hà Nội nhớ nhất cái gì? 

A: Những quán nước chè vỉa hè.

Lãng du qua những quán cóc vỉa hè. Muà hè trà đá, mùa đông trà nóng.

Thân quen quá. Somewhere, out there.













Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2009

Tản mạn khám phá Cửa Lò-một kỷ niệm cũ

Bài này được viết vào tháng 8/2005 và đăng tải trên Bulletin Vol. 2 của Công ty sau một kỳ nghỉ cực vui tại Cửa Lò. Mùa hè sắp đến, nên đăng lại ở đây để có thêm hy vọng cho một kỳ nghỉ sắp tới. Và cũng là một cách để lưu trữ lại những gì đã viết.

Tuần qua Công ty đã có một kỳ nghỉ tại Cửa Lò rất vui và thành công. Trên phương diện du lịch, ngoài việc được nghỉ ngơi, chắc hẳn mỗi người ai cũng có những khám phá riêng của mình về thị xã Cửa Lò: ăn chỗ nào ngon, hát karaoke ở đâu hay, tắm ở chỗ nào sạch, hay mua quà lưu niệm ở đâu là rẻ, v.v… Nhưng trên hết, tôi cho rằng, khám phá lớn nhất mà chúng ta thu được sau chuyến đi chính là những khả năng tiềm ẩn trong mỗi thành viên ABC mà ngày thường không phát hiện ra hoặc đến giờ mới được bộc lộ. Chính vì vậy mà chúng tôi đã đặt tên cho chuyên đề cuối tuần này là “KHÁM PHÁ”, với mong muốn sẽ có nhiều khám phá hơn nữa trong hoạt động sản xuất kinh doanh thường ngày của Công ty.

Phố Biển hay câu chuyện Em có nghe biển hát chiều nay.

Dường như phong trào ca hát – văn nghệ của Công ty đang phát triển hơn bao giờ hết. Trước đây, chúng ta cũng hát, cũng nhảy, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức nghiệp dư. Nay thì đã đạt đến mức chuyên nghiệp, khi mà, qua chuyến đi, chúng ta đã khẳng định được rất nhiều giọng ca mới. Ngay tối hôm đầu tiên đổ bộ xuống Cửa Lò, chúng ta đã có một màn trình diễn ấn tượng tại sân khách sạn, cho dù thiết bị âm thanh không được tốt. Một ca sĩ “Quang” Lin với giọng hát ngọt ngào, có thể “cân” được tất cả các thể loại, và đặc biệt là khả năng nhái giọng nữ – một khả năng đã giúp cho ca sĩ này có khả năng hát song ca… một mình. Chất giọng của ca sĩ này cũng trở nên rất da diết mỗi khi trong lời bài hát có xuất hiện tên của một nữ nhân mà tôi sẽ đề cập đến ở phần sau. Ca sĩ “Kiều” Hưng đã thể hiện một giọng nam khoẻ khoắn và ấm áp, hiện được coi là nam ca sĩ nhạc trẻ hay nhất của ABC. Các bạn To, Án, Hả, Min, Tu cũng rất xuất sắc khi nhập vai các ca sĩ đang nổi danh hiện nay như Duy Mạnh, AXN, nhất là khi cất lên những lời nói tự đáy lòng như “Dù cho em không cần anh nhưng anh vẫn cần em”, “tay không trắng không lại về không”, hay “Cứ bước đi mà đừng nghĩ suy”. Nhân đây tôi cũng muốn nhắn nhủ các bạn là bước thì cứ bước, nhưng cũng phải suy nghĩ một chút, kẻo có ngày bước xuống … cống hoặc va vào cột điện thì nguy. Tốp ca “trung niên” truyền thống - với ca sĩ chính là Sếp -  cũng có dịp trình diễn lại những bài tủ như “Năm anh em trên một chiếc xe tăng” hay “Việt Nam trên đường chúng ta đi”, trong đó nổi bật lên vai trò của nhạc trưởng S Hà. Chỉ tiếc là tốp ca đông quá nên không thể hát được câu “Năm anh em mang… ba cái tên” vì trong năm người thì đã có tới ba người tên là Dũn rồi. Đây cũng là dịp để một nữ ca sĩ mới rất xuất sắc - người mang sẵn trong mình dòng máu của một nhạc sĩ - thể hiện tài năng của mình, đó là VB Hà. Chắc chắn mọi người vẫn chưa thể quên tiếng vỗ tay của mọi người, cũng như những cái đầu nghiêng nghiêng chụm vào nhau thì thào tán thưởng khi cô ca sĩ này cất lên giọng hát cao vút của mình. VB Hà cùng với Hưng là đôi song ca hay nhất của ABC từ trước đến nay, đồng thời, nữ ca sĩ này có lẽ cũng là Dancing Queen của ABC khi trình diễn những bước nhảy rất ấn tượng của mình. Nhân tiện nói về chuyện nhảy nhót, cũng phải ghi nhận rằng To và Tu là đôi nhảy phụ hoạ “hay” nhất, trong khi Án và Hươ (Hươ “múa”) lại thể hiện một màn nhảy nam nữ “bốc lửa” chưa từng thấy. Và nếu không tận mắt chứng kiến, người ta sẽ không thể tưởng tượng được một Mr. Án thường ngày rất trầm lắng lại có một màn trình diễn ấn tượng đến thế.

Cũng qua chuyến đi này, đoàn thanh niên đã trình diễn một tiết mục giải trí rất vui trên hành trình từ Ninh Bình về Hà Nội, phần nào giúp các thành viên trong đoàn quên đi sự mệt mỏi của chuyến đi dài.

Liên quan đến chuyện các ca sĩ, cũng phải nói thêm rằng Hưng chính là người được một số chàng trai khác “ghen tị” nhất. Hưng chính là nhân vật chính của câu chuyện “một người đi với một nguời”, và lúc đó có ít nhất 5 người khác muốn đóng thế vai của anh này và ngồi trông ngóng anh ta trở lại từng phút từng giây.

Trong số các ca sĩ nói trên thì "Quang" Lin là ca sĩ chạy sô nhiều nhất, có đêm tới 3 sô khác nhau. Đôi lúc anh này cũng bị “bể” sô vì đang trong lúc cao trào “Đời Tran là của Lin” thì lại có điện thoại tít tít, và thế là lại “Alô, Mặt đất gọi Đại Bàng nghe rõ trả lời”. Và để tránh trường hợp bị gẫy cánh (giang hồ đồn đại rằng Mặt đất rất giỏi võ), ca sĩ này lại tranh thủ lúc mọi người nhốn nháo trốn mất tăm để đến với một sô khác. Có lẽ sang bên đó, anh ta lại lấy hết sức mà gào lên “Đời Mặt đất là của Lin”.

CÂU MỰC NHẢY

Người ta đã tốn rất nhiều giấy mực để ca ngợi món “mực nhảy” Cửa Lò, và qua kiểm nghiệm thì sức hấp dẫn của nó là không thể phủ nhận. Có điều mực câu bằng tiền mặt không thể ngon bằng mực do tự tay mình câu. Điều này, cùng với mong muốn được thử cảm giác lênh đênh ngoài biển đêm, đã thúc đẩy rất nhiều người đi câu mực, và từ đây chúng ta lại có một khám phá mới: Sếp không những “câu” dự án và hợp đồng rất giỏi, mà còn là nhà vô địch trong câu mực. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đã câu được hơn 5kg mực các loại, mà theo như lời người lái thuyền, đây là số mực nhiều nhất mà một khách hàng câu được từ trước đến nay. Niềm vui bất ngờ đến nỗi sếp còn phá bỏ cả thói quen “không ăn mực vào đầu tháng” và thế là, vào đêm ngày mùng 1/rạng sáng ngày mùng 2/7 âm lịch, tất cả những người có mặt ngoài bãi biển lúc đó đã có một bữa mực nhảy đáng nhớ. Đây quả thật là một ngoại lệ tuyệt vời.

Hẳn rất nhiều người khi nghe nói chuyện này sẽ phải giật mình hoặc chạnh lòng vì “trông người lại ngẫm đến ta”. Trước đó, có những nhóm đi câu mực trong thời gian rất lâu, nhưng khi quay trở lại chỉ được vài con, thậm chí có những người còn không được bất kỳ một con mực nào, dù là nhỏ nhất. Kết quả này khiến người ta đặt một dấu hỏi rất lớn: họ làm gì ngoài biển? Quả thật là ngoài họ ra, chỉ có biển, bóng đêm và…ông lái thuyền là biết câu trả lời mà thôi. Dân Sài Gòn thường có câu “Nói dzậy mà hổng phải dzậy” quả là rất đúng trong trường hợp này. Cũng có thể, sếp đã chiến thắng trong trò câu mực là do tập trung hoàn toàn vào việc câu mực, trong khi những người khác ngoài việc câu mực ra, họ còn làm rất nhiều việc khác nữa. Hoặc, cũng có khả năng là họ câu được nhưng lại đã… đánh chén hết trên thuyền, chỉ chừa lại vài con “vớ vẩn” mang về cho anh em - những người ngồi trông đồ giúp và đợi họ dài cổ trên bãi biển, gọi là có tí lòng thành.

RƯỢU một bên, và em một bên

Rượu, như thường lệ vẫn là một phần không thể thiếu của chuyến đi. Hai can rượu ngô được thiết kế từ trước sẽ là vừa đủ cho chuyến đi nếu như không có “lác đác” (ở đây mạn phép dùng lại từ thuộc bản quyền của anh Tr. Dũn) một số nhân vật phải “theo chồng bỏ cuộc chơi”. Sớm nhất trong số đó phải kể đến anh Ph. Dũn, người lập kỷ lục về thời gian ở Cửa Lò ngắn nhất: đến cửa lò vào lúc 4h30 chiều hôm trước thì đến 5h30 sáng hôm sau anh đã rời khỏi đó. Dù vậy, chỉ trong vòng 13 tiếng đồng hồ, anh này cũng đã kịp thử hết tất cả các hoạt động thường ngày tại Cửa Lò: tắm biển, đá bóng, chụp ảnh, uống bia, ăn tối và uống rượu, hát karaoke, ngủ tại khách sạn, kể cả ngắm bình minh. Chỉ tiếc là do thiếu mất cái ống kính zoom của anh nên những hôm sau cái ống nhòm của anh Tr. Dũn bị sử dụng quá công suất ngoài bãi biển. Một số người mệt mỏi sau chuyến đi dài cũng không uống được nhiều rượu nữa. Hai can rượu ngô đầy ắp dường như trở thành gánh nặng. Hai can rượu vang cũng nằm im lìm dưới gầm bàn, đợi người uống. Chính vào thời điểm đó, sếp đã là người tiên phong cổ vũ, làm sống dậy không khí uống hào hùng của ABC. Cùng với sếp, chị V. đã trở thành “hoạt náo viên” hoạt động cuồng nhiệt nhất cổ vũ không chỉ phong trào uống bên phía chị em mà còn đem cả sự nhiệt tình đó sang với bàn nhậu của cánh mày râu, khiến không khí phòng ăn mỗi buổi tối trở nên sôi động chưa từng thấy. Nhờ có vậy mà hai can rượu ngô cũng như rượu vang cứ vơi dần bằng cách áp dụng công thức mới được khám phá: “Lộc+Lộc=Đại Lộc”. Trong không khí hào hứng đó, một câu nói hay nhất chuyến đi đã được tuyên bố một cách dõng dạc “Thế Sếp muốn gì?”. Giám đốc lúc đó chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra thì mọi người đã vỗ tay rầm rầm. Tác giả của tuyên bố đó không ai khác chính là chị H.– tên thường gọi là H. “bầu” để phân biệt với rất nhiều H. khác của DEF. Có một điều chắc chắn là nếu cứ ở Công ty mà không đi nghỉ mát, chúng ta sẽ không bao giờ được nghe những câu nói hay như thế. Hình như hôm đó Sếp có tới 3 điều ước mà mới chỉ nhận được 1. Và vẫn còn có tới 2 điều ước nữa đấy nhé, chị H. ơi!

Dẫu có vậy thì đến buổi tối cuối cùng, vẫn còn có tới hơn một nửa can rượu ngô chưa được giải quyết vì lượng người còn lại ít quá. Mọi người nhìn nhau, tưởng như không thể uống hết và ngày mai phải mang rượu về. Nhưng một lần nữa Sếp lại tập hợp mọi người quây quần lại, cùng nhau “chiến đấu”. Ở đây, lại có một khám phá nữa: ranh giới giữa cái không thể và có thể là rất mong manh, chỉ cần mỗi người cố lên một chút là cái không thể sẽ biến thành cái có thể. Chính nhờ nguyên tắc này mà tiệc rượu tối cuối cùng tại Cửa Lò - tưởng như là buồn tẻ nhất - lại trở thành vui vẻ nhất, và cái can cũng vui lây vì bản thân nó không phải tải rượu về Hà Nội nữa.

Nói về rượu cũng không thể không nhắc đến Mr. B, người có lẽ đạt kỷ lục về tham gia vào nhiều cuộc nhậu bia rượu nhất trong chuyến đi. Hình như ngày nào anh B cũng liên tục uống từ sáng hôm trước đến sáng sớm ngày hôm sau. Vào các buổi tối, anh thường uống ngoài bãi biển, và cứ sau khoảng nửa tiếng lại bỏ bàn nhậu ra sát mép nước một lúc rồi lại vào uống tiếp. Bản thân tôi đến giờ vẫn chưa hiểu anh B thích uống bia hay thích ngắm biển đêm hơn. Có lẽ là anh thích cả hai, và hai hoạt động đó bổ trợ cho nhau, giúp anh có thể uống liên tục và có một kỳ nghỉ rất vui. Trong những lúc trà dư tửu hậu như thế, anh đã tâm sự với chúng tôi rất nhiều chuyện, trong đó có một chuyện mà tôi cho rằng lại là một khám phá thú vị nữa, đó là câu chuyện sóng biển Cửa Lò dù rất to cũng không thể đánh tụt cái… quần tắm của anh, song sóng ở trên bờ, dù rất nhẹ nhàng lại khiến nó phải ngoan ngoãn khuất phục! Về điểm này, chắc phải vote (bình chọn/chấm điểm) anh B 5 sao.

“CẢNH SÁT” hay “POLICE” gì thì cũng là con cả người thôi.

Có một khám phá khác cũng rất thú vị: dù là đi chơi nhưng lần này cánh mày râu có rất nhiều “cảnh sát/police” đi kèm. Cảm ơn anh T vì đã nghĩ ra một thuật ngữ hay như thế. Nhưng cái đáng nói nhất là “cảnh sát nhí” lại hoạt động hiệu quả hơn rất nhiều so với “cảnh sát lớn”. Dường như trước khi được gửi đi Cửa Lò, các “cảnh sát nhí” này đã được huấn luyện rất kỹ ở nhà. Trong lúc dừng ăn trưa tại Thanh Hoá, tức là mới rời Hà Nội được một nửa quãng đường, khi được phỏng vấn: “Hôm qua mẹ cháu có dặn gì không?”, con gái của Mr. Du đã trả lời rất rõ ràng, mạch lạc: “Mẹ cháu dặn không được để bố đi với các cô”. Nhưng cảnh sát hoạt động hiệu quả nhất chắc chắn phải thuộc về H. Anh – 5 tuổi, con trai anh Tr. Dũn. Trên đường đi, các cô trẻ trung xinh đẹp của ABC đã trêu trọc H. Anh bằng cách cố tình tạo ra một số cử chỉ thân mật với anh Tr. Dũn để cậu bé nhìn thấy. Ngay lập tức H. Anh đứng phắt dậy, chạy tới và hét lên: “Tránh ra, mấy con quỷ cái kia!”. Hiệu quả thế nào thì ai cũng biết, và sau đó, gần như hai bố con lúc nào cũng như hình với bóng. Nếu lấy anh Tr. Dũn làm tâm thì H. Anh chỉ hoạt động trong vòng tròn có bán kính… 1 mét mà thôi. Ngoài việc uống rượu bia và dạy con tập bơi, H. Anh không cho anh làm gì khác, kể cả hát karaoke hay nhảy nhót. Nhưng sự đời cũng nhiều đổi thay. Cứng rắn là vậy nhưng cuối cùng H. Anh cũng phải “đầu hàng” trước những cám dỗ mới do chị H “bầu” nghĩ ra: trò chơi điện tử. Nhờ có phát minh này mà anh Tr. Dũn cũng đã có được một ngày cuối cùng ở Cửa Lò nghỉ ngơi theo đúng nghĩa của nó. Điều này cũng một lần nữa khẳng định một nguyên lý mà người lớn hay khai thác: Dù có cứng rắn đến mấy thì người ta vẫn có lúc phải “liêu xiêu” trước những cám dỗ đời thường, hay nâng cao lên một chút là câu nói của một người nào đó mà tôi không nhớ tên: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng… rất nhiều tiền”.

Còn rất nhiều khám phá nữa, nhưng hình như tôi đã viết quá lan man và lấy đi tương đối nhiều thời gian của mọi người nên xin được dừng bút ở đây. Hẹn gặp lại lần sau và mong rằng, mọi người sẽ phát huy hơn nữa những năng lực tiềm ẩn của mình, cũng như phát triển tinh thần đoàn kết để xây dựng một tập thể, một sức trẻ ABC vững mạnh hơn nữa, như chúng ta đã và đang làm trong thời gian vừa qua. Tôi cũng xin nhấn mạnh rằng khi viết bài này, tôi đã cố gắng mô tả trung thực sự việc “đúng như nó là” và những nội dung này chỉ mang tính “giải trí”, ngoài ra không ám chỉ một điều gì khác, và nếu có vô tình làm tổn thương đến một cá nhân nào đó, tôi cũng xin được người đó bỏ quá cho.¡