Recent Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Grey Morning

"And here comes another grey morning 
A not so good morning after all 
... "well, what am I to do today 
With too much time and so much sorrow"
(Another Grey Morning, James Taylor)

#1
Grey Morning 5

#2
Nguoc sang 7

#3
Nguoc sang 6

#4
Nguoc sang 5

#5
Nang xien 3

#6
Nang xien 2

#7
Lo xo 2

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2011

Gió đưa tôi đi ngang qua buổi chiều (A Blue Trip)

Hai đứa ngồi bên nhau trong một cái chòi nhỏ. Trước mặt là cái hồ, không rõ hồ nước mặn hay nước ngọt, được bao quanh bằng một rặng phi lao dày đặc. Phía tay phải, cách nơi chúng tôi ngồi chỉ vài chục bước chân, là biển. Bên trái là một dãy núi thấp hình vòng cung, như ôm trọn lấy cái bãi biển trong đó có cái hồ này. Còn phía sau lưng chúng tôi là gì, là toàn bộ cuộc sống bận rộn và chen chúc hàng ngày. Hẳn thế rồi.

photo.JPG

Hai đứa đã thực hiện thành công một cuộc trốn chạy khỏi những bức bối đời thường, để được cùng nhau ở đây, ở chỗ này. Im lặng. Chờ nắng lên. Bỏ lại sau tất cả. Như tôi đã bỏ lại cái iPod với những Bob Dylan, the Beatles và Eric Clapton,... để được nằm đây, ngước mắt nhìn cái mái chòi lợp lá cọ, và lắng nghe gió và rặng phi lao đang cùng tấu lên bản nhạc của gió và cây, trong cái tinh khiết của sớm mai. Nằm và lắng nghe tiếng gọi của thiên nhiên, nếu không muốn nói là “tiếng gọi nơi hoang dã”. Tiếng gọi của lòng mình.

DUNG6564

Trời vẫn còn sớm. Tôi úp lên mặt cuốn “Chuyện kể năm 2000” đang đọc dở, dự định làm một giấc ngắn nữa. Nàng ngồi ngay bên cạnh. Nếu cái sàn bằng tre không quá gồ ghề, hẳn là nàng đã thực hiện bài tập Yoga của mình. Nàng nghĩ gì, tôi không rõ. Nhưng tôi cứ nghĩ rằng ngón tay nàng đang liên tục gõ lên phím F5 của cái máy tính cuộc đời. Tôi thầm khuyến khích nàng tiếp tục việc đó. Nàng đã mệt mỏi và phải chịu nhiều thiệt thòi, vì tôi. Ở một khía cạnh nào đó, cuộc sống của nàng cũng chẳng khác gì Ngọc, vợ của A Tuấn, nhân vật chính trong cuốn sách tôi đang đọc dở. Tôi đã chẳng làm được gì nhiều cho nàng. Lúc đó, tôi chỉ biết đền đáp cho nàng sự tĩnh lặng, để nàng được thực sự "hoà vào thiên nhiên", như nàng hằng ước ao.

Nhưng thôi, ngoài kia nắng đã lên trong tiếng lao xao của những người đi làm sớm, tiếng xe máy loành xoành chạy theo con đường nhỏ phía xa. Chúng tôi rời khỏi cái chòi vừa lúc những cantin dịch vụ ngoài bãi biển đã thức dậy. Và đã lại oang oang những oằn oại não nề khổ đau của thứ nhạc "teen pop" đang thịnh hành.

Hoa tim

RaumuongBien

Hai đứa lại lặng lẽ bước bên nhau. Và tôi thì cứ nghĩ "Chuyện kể năm 2000" có lẽ là một cuốn sách không phù hợp để mang theo trong một hành trình như thế này.

****
Chiều hôm đó, chúng tôi đã lại ở một địa điểm khác. Một chuyến tàu "cao tốc" đã đưa hai đứa đến một vùng đất mới, nơi mà chúng tôi kỳ vọng là sẽ được sống chậm hơn. Và chúng tôi đã không lầm.

Lâu lắm rồi hai đứa mới lại lấy lại được cái cảm giác "on a [dark desert] highway, cool wind in my hair". Cung đường nhỏ nhưng thênh thang vì vắng người. Và nắng. Và gió. Và không phải đội mũ bảo hiểm. Ở đây chẳng thấy có công an, chẳng một bóng "áo vàng". Xe cộ thì vất đâu cũng không sợ mất. Để tận hưởng niềm vui thú, tôi bỏ nốt cái mũ vải, để mặc nắng và gió thốc vào mặt, len lỏi vào trong tóc, len lỏi cả vào cái bộ não dường như đã bị o ép và xơ cứng quá lâu của tôi.

photo.JPG

Bong 1

Cũng đã lại lâu lắm rồi tôi mới lấy lại được cái cảm giác bấm máy. Cái máy ảnh ước mơ một thời của tôi đã bị bỏ xó đến nửa năm, kể từ cái Tết âm lịch năm nay. Hình như cũng bằng đấy thời gian, tôi đã không chụp được kiểu ảnh nào cho hai "ông tướng" nhí ở trong nhà. Gần như lần nào nàng cho xem những tấm ảnh chụp con-của-người-khác, tôi lại nhắc lại với nàng, như một cái máy: "lâu lắm rồi không chụp được cái ảnh nào cho hai đứa". Như là một lời thú tội, hay là một lời xin lỗi? Hay là một lời cảnh tỉnh, cảnh tỉnh chính mình rằng mình đã đi quá xa khỏi cuộc sống, cái cuộc sống mà mình đã phải quá vất vả mới có được. Tôi đã mất quá nhiều thời gian để hoà công việc với cuộc sống của chính mình. Phải mất bao lâu nữa thì tôi mới lại có thể tách được chúng ra, như thưở ban đầu?

Nha hoang 1

Bao lâu nữa thì tôi không biết. Nhưng từ nay, tôi sẽ bình thản mà lái cuộc đời của chính mình chạy giữa sống và làm việc không theo gương của người mà không nói ra thì ai cũng biết. Nghĩa là cân bằng. Tuy cũng có lúc trệch sang trái, lúc trệch sang phải, nhưng về cơ bản vẫn là theo con đường đấy. Như lúc này, tôi đang đưa nàng đi trên cái xe máy cà tàng thuê trong thị trấn, có lúc dừng lại để chụp ảnh, có lúc nhanh, lúc chậm, lúc đi bên phải, lúc lại đi hẳn sang bên trái đường để được tránh nắng dưới những hàng cây, thì vẫn phải đi hết con đường để tới đích cuối cùng. Ở cuối con đường, là biển.

Duong Xuyen Bien

Biển còn hoang sơ, nhưng bãi cát trắng, mịn và sạch. Nước biển trong, sóng lại không quá lớn. Tuy không quá đông người, chúng tôi cũng đi qua khu ồn ào nhất để đến cuối bãi, nơi gần như không có ai, ngoài mấy người đang dọn dẹp một bãi đất để dựng lều bán hàng. Họ đốt cái gì đó, chắc là lá cây. Khói bốc lên rồi tan cả vào nắng chiều. Rừng thông lúc ẩn lúc hiện sau đám khói trắng, để lại một từ thốt lên trong lòng tôi: Đẹp.

Xich Du

****
Hai đứa rời bãi tắm khi nắng chiều đã sắp tắt. Những tia nắng như nằm ngang, chiếu thẳng vào những thân cây bạch đàn. Cả một hàng cây trắng loá dưới ánh chiều tà. Những thảm cây lúp xúp đủ màu ánh lên một vẻ đẹp kỳ lạ. Những ngôi nhà nhỏ, tường trắng, mái đỏ ẩn hiện sau những lùm cây, và sáng rực lên trong ánh sáng cuối ngày. Tôi chụp, nhưng tôi biết mình đã bất lực, vì máy ảnh tôi không thể tái hiện lại những hình ảnh đó. Những vũng nước thẫm xanh bên những đụn cát trắng. Hoàng hôn ở đây không phải màu tím. Nó có màu xanh. Thoạt tiên là màu lam nhạt, rồi chuyển sang xanh thẫm. Và khi chúng tôi rẽ vào một quán ăn dọc đường, một cái bè nổi trên đầm, thì cũng là lúc những tia nắng cuối cùng đã tắt, trước khi hắt lên một đám màu hồng rực sau những rặng núi và đám mây đã chuyển sang xanh thẫm tự bao giờ. Máy ảnh chỉ là một cái máy. Và tôi thì chỉ là một thằng nghiệp dư, đang tập toẹ đua đòi theo đám đông cầm máy ảnh. Và tôi vẫn nghĩ, những tấm ảnh, trên một khía cạnh nào đó, không bao giờ lưu giữ được những gì mà mắt người nhìn thấy, cảm thấy. Nó không thể thay thế cái sự "sống" của đôi mắt. Giống như công việc không thể thay thế cho cuộc sống hàng ngày.

Nha Ven Duong 1

Nha ven duong 2

Tham co1

Cay va Nui 1

Cay va Nui 2

Bien va Nui

Bien va Nui 3
****
Khi hai đứa bước ra khỏi cái nhà nổi thì trời đã tối thẫm. Xung quanh và trên đường không một ánh đèn. Cả hai cùng ngước lên và cùng "ồ" lên một lúc. Sao. Sao dày đặc và bầu trời như được kéo gần mặt đất hơn. Những ngôi sao to, rõ nét, và dày đặc giăng kín trên bầu trời. Hôm nay mới là đầu tháng, không có giăng nhưng có sao. Tôi chưa bao giờ chứng kiến một bầu trời sao như vậy. Và nàng nhắc cho tôi biết, ai đến đất này cũng ấn tượng với sao ở đây. Như là một thói quen, tôi giơ máy ảnh lên, nhưng máy làm sao ghi lại được những thứ này. Tôi buông máy ảnh xuống. Ở ngay cái khoảnh khắc đó, tôi mới nghiệm ra, công việc không phải là cứu cánh cho cuộc sống. Nó chỉ là phương tiện. Như cái máy ảnh kia, chỉ là một phương tiện để ghi lại một phần những gì mà ta cảm thấy được. Một phần. Không phải là tất cả.

****
Bầu trời đầy sao nhắc nhở tôi nhớ tới những đêm của mười bảy năm trước. Cũng là những đêm sao của một thanh niên mười bảy tuổi, vừa từ nông thôn bước vào đại học ở thành thị, lần đầu tiên đọc Kim Woo Chung và bắt chước ông, nhìn lên bầu trời đầy sao để dệt những ước mơ. Lúc đó tôi không hề mơ và tưởng tượng đến một ngày mình lại có những phút giây trải nghiệm như thế này. Không hề có. Và cũng không hề nghĩ, những ảnh hưởng sâu đậm từ tư tưởng của Kim lại để lại những di chứng nặng nề như hôm nay, những tư tưởng phải hy sinh hết đời sống cá nhân để xây dựng sự nghiệp, những cống hiến cho xã hội thông qua làm việc theo tinh thần của Khổng giáo. Và cả những nhồi sọ của một thời về lao động, cống hiến, con đường,... và rất nhiều những thứ tương tự thế dưới mái trường XHCN. Đã không ai nói cho tôi biết còn có những thứ khác nữa, những thứ mà mãi gần đây tôi mới nhận ra. Hồi đó tôi chỉ có sách vở. Tôi đã không có may mắn được gặp những người có thể chỉ ra cho tôi một con đường khác. Sách vở đã dẫn tôi đi nhầm đường, và bây giờ cũng lại chính sách vở đã chỉ ra cho tôi thấy rằng tôi đã nhầm. Liệu tôi có dại dột đến hai lần? Tôi đã có một thời tuổi trẻ đầy ước mơ. Liệu rằng tôi có làm sống lại được nó, những "salad days", mà theo những gì tôi đọc được trong cuốn Menu của chuỗi Highlands Coffee, là "những ngày vô tư của một thời son trẻ, một thời xuân xanh phơi phới như màu xanh tươi của những cọng salad."?

****
Hai đứa lên xe quay về thị trấn dưới một bầu trời đầy sao như thế. Đường vắng không một bóng người. Tĩnh lặng gần như tuyệt đối. Tôi ước gì cái xe Dream Tàu này không phát ra những tiếng động vô duyên như thế. Nhưng chẳng lẽ lại xuống xe dắt bộ? Nhưng thôi, có cái gì là tuyệt đối đâu, cho nên có được một ngày thế này là đã tuyệt lắm rồi. Chẳng cần phải có thêm một scence hai đứa mò mẫm dắt cái xe máy nặng trịch đi năm sáu cây số dưới trời đêm đầy sao thì cũng đã có một ngày đầy những trải nghiệm đáng nhớ rồi.

****
Trước khi đi ngủ, tôi lại lôi cuốn sách đang đọc dở ra và tiếp tục công cuộc "sống với sách" của mình. Và thật kỳ lạ, tôi đã đọc được những dòng như thế này:

"Hắn khẽ khàng tém lại màn cho bố. Đi ra sân. Một mình hắn đứng giữa sân. Dưới ánh sao, cây cối trong vườn hình như cũng ngủ.

Trên đầu hắn là bầu trời yên tĩnh. Hắn lắng nghe sương xuống, và hắn nhìn sao.
..............
Và có lẽ cũng không ai nhìn sao như hắn nhìn hôm ấy. Nhìn và tự hỏi: Biết bao giờ mới lại có một đêm nữa ngắm sao. Điều kỳ diệu là đang kỳ mưa dầm, đêm ấy bỗng quang mây. Cả một trời sao mênh mông trên đầu hắn."

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Trên đường

Tôi đọc nốt chương cuối cùng của cuốn Trên đường sau khi đã đánh một giấc ngủ trưa ngắn. Trước đó, tôi đã làm vài chai bia và đã ngà ngà. Và cơn buồn ngủ ập đến trong cái nắng ban trưa và những cơn gió mát lành.

Khi tôi buông cuốn sách và nhìn lên, trước mặt là cả một tấm màn dịu êm kết bằng những tán phi lao xanh sẫm. Trên cao nữa, là bầu trời xanh ngắt vời vợi. Mặt trời chếch đâu đó phía trên ngọn phi lao, nắng làm cho những chiếc lá kim thêm lấp lánh.

Ngoài kia, chỉ cách nơi tôi nằm khoảng 50 mét, là biển. Vịnh Bái Tử Long. Mặt nước êm như mặt hồ, sóng chỉ hơi gợn lăn tăn. Thoạt tiên nước hơi đục và có màu nâu đất, rồi đến một lớp nước màu xanh nhạt, rồi đậm dần về phía xa, nơi những hòn đảo nhỏ, những vảy rồng theo truyền thuyết đang ngự trị. Cả những hòn đảo cũng xanh. Và qua những  hòn đảo, lại là bầu trời.

Dư âm của những gì tôi đọc được trong Trên đường lẫn vào những tia nắng mặn mòi vùng biển, tiếng người lao xao, và tiếng gió thổi qua những rặng phi lao vi vút.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Thời xưa cũ

Dạo này nghe đi nghe lại album Time Out of Mind của Bob Dylan. Những âm thanh xưa cũ đầy hoài niệm về một thời đã xa cứ quanh quẩn, vảng vất đâu đó không dứt ra được. Và cũng không chủ tâm muốn dứt bỏ nó.

**
Mấy tuần nay đi nhiều. Trên những con đường đã đi, thỉnh thoảng vút qua kính xe những cây gạo đơn độc giữa cánh đồng, nhưng hoa đỏ rực rỡ và đẹp khôn tả. Những hoa gạo của Tháng Ba.

***
Hôm qua, cũng ngang đường, bỗng vụt qua một ao bèo nở đầy hoa tím dưới ánh mặt trời trong vắt của sớm mai. Đẹp đến mức tôi phải ồ lên kinh ngạc và chỉ cho cả xe cùng trầm trồ khen ngợi.

****
Lần đầu tiên được đọc Thơ Hoàng Cầm một cách có hệ thống. Thơ ông đẹp, tôi chỉ biết nói vậy vì ngôn từ của tôi không đủ để bình luận thơ ông. Có một điều chắc chắn, thơ ông gợi cho tôi nỗi nhớ da diết về miền quê và tuổi thơ tôi. Những thứ Đẹp và Buồn.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Hoài niệm Huế (1)

Chúng tôi dự định đi Huế từ thời còn chưa cưới nhau. Chương trình cũng đã được lập sẵn, nhưng sau đó đã phải huỷ bỏ, vì nhiều lý do. Lúc đó, tôi không nghĩ cái sự hoãn lại đó lại kéo dài đến thế. Vậy mà phải đến khi thằng lớn đã lên 5, còn cậu nhóc thứ hai đã lên 3 tuổi, dự định đi Huế của chúng tôi mới trở thành hiện thực.

Háo hức, do đó, là chuyện đương nhiên. 

Từ trước ngày lên đường cả nửa tháng, bà xã đã treo lên blast ước vọng được ngồi cà phê ở Huế. Chúng tôi còn cùng nhau lên một lịch trình chi tiết cho chuyến đi, ngày nào, giờ nào, làm gì, ăn gì, ở đâu, di chuyển như thế nào,... có lẽ còn chi tiết hơn tất cả những lịch trình công tác mà tôi đã từng lập trước đó. Vẫn biết sự tự do là mục đích tối thượng của mỗi chuyến đi, chúng tôi vẫn gò ép mình vào một lịch trình chi tiết như vậy, để có thể tận dụng được hết quỹ thời gian hạn hẹp của kỳ nghỉ. Cũng biết rằng có nhiều bất ngờ đang đợi mình phía trước, chúng tôi vẫn muốn biến lịch trình đó thành một quỹ đạo riêng, và dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng sẽ không để chệch quá xa quỹ đạo của mình. Có lẽ với ngân sách dồi dào và khoảng thời gian là nửa tháng, chúng tôi sẽ không bỏ ra, dù chỉ là một phút giây, để làm ra những thứ như vậy.

* * *

Chúng tôi đi chuyến tàu tối, xuất phát từ ga Hà Nội lúc 7h15. Phải đến khi quăng mình vào cái “ghế mềm, điều hoà” và ổn định mọi thứ, từ hành lý lỉnh kỉnh cho tới chỗ ngồi của Tít, thành viên đặc biệt của chuyến đi, tôi mới có cảm giác bỏ lại đằng sau mọi lo toan, bận rộn đìu ríu bấy lâu nay. Tàu chuyển bánh đúng giờ. Chúng tôi xa Hà Nội trong cái dập dình của toa tàu, giữa những âm thanh đay nghiến của bánh tàu xuống đường ray, tiếng vặn cùng cục nặng nhọc ở mỗi khúch quanh, và tiếng loa phóng thanh the thé của nhà tàu, lòng mơ màng đến đích đến thanh bình vào sáng hôm sau: ga Huế.

Chẳng có việc gì đáng kể để làm trên cái toa tàu buồn tẻ, tôi lôi hai cái cuống vé ra ngắm nghía. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra trên đó, người ta chỉ ghi giờ khởi hành mà không ghi giờ đến ga cuối. Là người ít đi tàu, đối với tôi dường như đây là một phát hiện lớn. Tôi nghĩ mãi về điều đó, là vì nếu không có cái giờ đến chính xác, lịch trình của chúng tôi có thể bị xáo trộn. Dựa vào kinh nghiệm về thời gian của những người đã từng đi trước đó, chúng tôi đã dự định sẽ đến Huế vào lúc 8h30 sáng hôm sau, sẽ tụ tập ăn nhanh một tô bún bò quanh ga Huế rồi lên xe dông thẳng vào Lăng Cô. Nếu muộn hơn, vụ ăn sáng bằng bún bò sẽ là điều không thể. Cùng lúc đó, tôi nhận ra rằng việc không in giờ đến ga cuối, suy cho cùng là biểu hiện của sự kém tự tin của ngành đường sắt. Đáng buồn thay, đó lại là sự kém tự tin của một ngành có bề dày lịch sử hơn 100 năm – một trong những ngành đầu tiên của Việt nam được định nghĩa và phân loại bằng hai chữ “công nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ người ta cũng đã nhầm khi phân lọai như vậy. Ngành đường sắt, trên hết phải là một ngành dịch vụ. Tôi đã nghe ở đâu đó nhiều lần rằng, khi đề cập đến sự yếu kém và chậm phát triển của ngành này, người ta đổ lỗi cho việc thiếu vốn. Nhưng vấn đề của ngành dịch vụ, chắc chắn không phải là vốn, mà phải là cái não trạng kinh doanh dịch vụ, một cái business mind hướng về khách hàng – những thứ mà từ tấm vé tàu tôi suy ra rằng lãnh đạo ngành đường sắt không có hoặc vì điều gì đó, họ đã cố tình lãng quên.

Bỏ qua nỗi hoang mang nho nhỏ về thời gian, tôi cảm thấy hơi khó chịu khi thấy mồ hôi bắt đầu rịn ra. Tôi bắt đầu quan sát xung quanh và nhận ra nhiều người cũng đang cùng cảnh ngộ. Mặc dù là toa “điều hoà”, như người ta đã ghi vậy trên tấm vé, nhưng không khí rất nóng vì cái điều hoà đang trục trặc. Chẳng có ai giải thích hoặc có động thái thể hiện là sẽ tiến hành sửa chữa cái trục trặc đó. Chúng tôi tự nhủ rằng chắc ngồi im một lúc, không khí sẽ dịu đi.

Không lâu sau, tôi nhận ra rằng chúng tôi là một thiểu số 3 người đã rơi vào một toa tàu gồm toàn những người làm chung một cơ quan hoặc họ hàng. Họ đã mua vé gần hết toa và giờ đây họ bắt đầu thể hiện sự thân quen của họ như thể họ đang ở trong cơ quan hoặc nhà của họ chứ không phải trên tàu. Có lẽ đối với họ, toa tàu này đích thực là “a home away from home”, như nhiều khách sạn nổi tiếng thường quảng cáo vậy. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là tàu chợ, mặc dù cái tàu chúng tôi đang đi không phải là tàu chợ, cũng chính là vì chúng tôi đã rơi đúng vào cái chợ vỡ đó. Lúc đó, tôi biết tôi sẽ có một đêm không yên bình.

Giống như những cuộc vui thông thường khác, đám chợ vỡ bắt đầu gầy độ nhậu và đánh bài. Họ tập trung ở giữa toa và bắt đầu cuộc vui bằng những tiếng cụng ly, những tiếng xuýt xoa mỗi khi lỡ đánh nhầm một quân bài, những tiếng cười hô hố hoặc những lời kể lể the thé, những phàn nàn và ức chế trong công việc, những đàm tiếu về người này, người kia, vân vân và vân vân. Minh hoạ cho những âm thanh đó là những dáng người ngả ngốn, những cái bụng phệ bèo nhèo và những khuôn ngực đàn ông lép kẹp trong cái áo ba lỗ, những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười toe toét hết cỡ, những người đàn bà ghé tai nhau thầm thì, và những bắp chân đầy lông lá gác lên thành ghế. Một tay trong nhóm, có lẽ là lãnh đạo ở cơ quan, mặt hơi ửng đỏ, liên tục đi lại, nói năng chỉ đạo hết đám nhậu lại đến đám tá lả. Hắn khệnh khạng nâng ly, ép một tay thuộc hạ phải uống cho bằng hết, rồi lại quay sang nói ông này phải đánh cây này, ông kia phải đánh cây kia, và một ông nào đó đang ở nhà với vợ, lẽ ra phải đi cùng chuyến này mới phải. Hắn gãi bụng xoành xoạch, vén cái áo phông lên tận nách và bắt đầu phàn nàn chửi bới cái điều hoà – lúc này đã mát hơn trước nhưng người hắn đang bốc hoả vì rượu nên cũng chẳng ăn thua gì. Hắn lăng xăng khắp toa tàu để tìm chỗ điều khiển cái điều hoà nhưng không có. Hắn lớn tiếng chửi bới cái điều hoà như thể Chí Phèo đang chửi cả làng Vũ Đại. Rồi cuối cùng hắn thể hiện sự nhanh nhẹn – một trong những “tố chất lãnh đạo” của hắn - bằng cách lôi kéo được tay trưởng toa vào độ nhậu. Tay này sau một hồi zô zô, ngả ngốn, ăn uống nói cười bắt đầu đứng dậy làm nhiệm vụ cao cả của mình là sửa chữa cái điều hoà bị hỏng. Chẳng biết kết quả thế nào nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã thấy mát hơn hẳn, khi cả đám chợ vỡ đã chán bài bạc, rượu đã ngấm và bắt đầu quay ra ngáp vặt hoặc ngáy như kéo gỗ. Cái chợ đã tan khi tất cả những người tham gia họp chợ đã áp dụng tối đa khẩu hiệu “make it your home”. Lúc đó đã là nửa đêm.

Tất cả những cảnh tượng đã qua khiến tôi nhớ đến những đám đông bên Tàu mà tôi đã từng chứng kiến. Nhốn nháo, lộn xộn, nói cười oang oang, chen lấn xô đẩy và “xếp gạch” nơi công cộng, những đặc điểm mà chắc chắn nhà văn Bách Dương đã đưa vào cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” nổi tiếng của mình. Việc quan sát những đặc điểm đó thậm chí còn đem lại cho tôi những niềm vui nho nhỏ mỗi khi có dịp lang thang nơi xứ người. Nhưng giờ đây, tôi không cười được khi thấy người Việt mình cũng “xấu xí” chẳng khác gì người anh em Trung Quốc. Chẳng nhẽ “tương đồng văn hoá” lại có nghĩa là xấu xí như nhau?

Tôi hơi đói nên tìm đến toa “nhà hàng” trên tàu. Toa này tối om, một nhân viên nhà tàu ngồi gần đó nói với tôi là đã hết giờ phục vụ. Bình thường tôi hay mặc áo màu xanh trứng sáo, nhưng hôm nay nhìn gã nhân viên trong màu áo ấy, tôi thấy ghét lạ, thậm chí còn tự nhủ nếu công ty mình may đồng phục thì cũng sẽ không chọn màu này. Tôi thấy lạ một điều là khi còn sớm, mọi người đều đã ăn uống no nê trước khi lên tàu thì các hàng ăn uống lũ lượt qua lại các toa tàu để bán hàng, và chẳng có mấy người mua. Nhưng đến khi họ bắt đầu đói và cần đến cái ăn, đồ uống thì lại chẳng có ai ở đó để đáp ứng, ngoài gã trực toa ngái ngủ trong cái áo đồng phục ngành đường sắt màu xanh trứng sáo và câu trả lời đáng ghét kia?

Cuối cùng, tôi cũng thiếp đi được một lúc. Tôi tỉnh dậy khi tàu dừng lại ở ga Đông Hà. Tàu dừng lại rất lâu, không hiểu để làm gì. Tôi tiếp tục ngủ được trong mệt mỏi và cái đói chưa được thoả mãn. Đến khoảng năm rưỡi sáng thì tôi tỉnh hẳn. Con tàu đang lao đi trong ánh sáng mờ sương của buổi sớm. Lần đầu tiên kể từ suốt cuộc hành trình, tôi nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Những quả đồi trọc, những cánh đồng trống không, xơ xác, thỉnh thoảng mới qua một vài mái nhà xiêu vẹo. Tôi chợt nhận ra rằng, từ Hà Nội, để đến được với những resort sang trọng, những bãi biển xanh tươi nằm dọc miền Trung, người ta vẫn phải băng qua một quãng đường dài của nhọc nhằn và đói nghèo. Nối kết giữa hai đầu của những phù du & phồn hoa phố thị là sợi dây hiện thực của những lam lũ vất vả mưu sinh.

Mọi người bắt đầu thức dậy. Đến khoảng 7 rưỡi sáng thì mọi người lục tục đi ăn sáng. Cỗ máy bán hàng ngái ngủ đêm hôm qua đã bắt đầu hoạt động trở lại. Tôi vẫn mơ màng với vụ ăn sáng bằng bún bò ở Huế nên chẳng mấy mặn mà với đồ ăn trên tàu. Nhưng tôi đã sớm phải vỡ mộng. Dù chẳng có thông báo chính thức gì từ cái loa phóng thanh xoe xoé lẹp bẹp trên tàu, giới thạo tin cho tôi biết tàu sẽ đến Huế rất muộn. Nghĩa là tôi sẽ đến Huế vào giờ chuẩn bị ăn trưa chứ không phải thời gian ăn sáng. Thế nghĩa là những gì tôi lo ngại đã trở thành sự thật. Sau khi check lại thông tin với một vài “đồng phục áo xanh trứng sáo đáng ghét” khác, tôi miễn cưỡng cùng bà xã đi ăn sáng.

Chúng tôi bước vào một toa mờ mịt khói và nhớp nhúa. Chỉ có khoảng 5-6 bàn và tất cả đều ken đặc người. Họ đang xì xụp quanh những hộp mì nghi ngút. Chúng tôi định quay ra thì có một bàn đã ăn xong, đứng dậy nhường chỗ. Chúng tôi rón rén ngồi lên những chiếc ghế cáu bẩn, cố tránh những vệt nước mì nhầy nhụa đang lênh láng trên mặt bàn, chực chờ chảy vào quần áo chúng tôi mỗi khi toa tàu lắc mạnh.

Giống như mọi người, chúng tôi gọi ba hộp mì. Tôi hơi đói nên cái mùi vị từ hộp mì thoạt tiên rất hấp dẫn. Nhưng chỉ sau gắp đầu tiên, tôi đã thấy có gì đó không ổn. Tôi nhìn bà xã, nói “Mì hôi quá”. Người đồng hành của tôi đáp lại, từ tốn và nhẹ nhàng: “Có mùi cứt gián”. Đó đúng là cái mùi hôi mà tôi chưa cắt nghĩa được. “Đốn ngộ” về mùi là thành tích mà tôi đạt được chỉ sau một lời giảng vô cùng ngắn gọn của một “thiền sư” là vợ tôi ngồi đối diện. Cuối cùng thì bữa sáng cũng xong, sau khi vật lộn với  hộp mì nông choèn mà nước cứ chực trào ra bắn lên mặt mỗi khi chúng tôi cúi xuống xực gắp mì. Tôi không hiểu vì cớ gì nhà tàu phải phục vụ thứ mì tôm như vậy, trong khi hàng ngày trên ti vi quảng cáo có không biết bao nhiêu là loại mì khác? Nó còn tệ hơn cả thứ mì cân rẻ tiền nhất mà thời sinh viên chúng tôi phải ăn hàng ngày.

Rồi cuối cùng thì Huế cũng hiện dần ra qua ô cửa, qua những địa danh nghe đặc chất Huế, qua những lăng mộ hai bên đường mà tôi biết qua kiến trúc đặc trưng của nó.

Ga Huế chào đón chúng tôi dưới ánh nắng chói chang lúc hơn mười giờ sáng, chậm gần hai tiếng so với lịch trình dự kiến và không một lời xin lỗi. Ra khỏi ga Huế, cảm giác của tôi như một gã tù được phóng thích và phải đến lúc đó, tôi mới tin rằng hành trình của chúng tôi đã thực sự bắt đầu.

* * *

(Còn tiếp)