Recent Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Tiếng gọi lúc nửa đêm

Vào cái thời khắc lúc nửa đêm, khi mọi việc đã xong xuôi và trước mặt chỉ còn là giấc ngủ, là lúc ta thực sự được thảnh thơi. Trong cái thinh lặng của đêm khuya, cái tinh khiết của sự nghỉ ngơi, ta mới cảm nhận rõ cái mùi thơm của rượu Gin vừa được rót lên những viên đá còn bốc khói. Và trong khi đợi cho những bọt tăm của nước Tonic sủi hết lên mặt ly và vỡ vụn, ta tự cuốn một điếu thuốc, rồi quẹt một que diêm. Lúc khum tay che cho ngọn lửa, ta mới nhận ra một cơn gió vừa nhẹ nhàng len đến xào xạc trên tán cây. Đấy là lúc ta cảm thấy cái hơi ấm, cái mùi thơm của thuốc lá đang át đi mùi lưu huỳnh, mùi gỗ cháy, để hoà quyện với hương thơm của rượu Gin và miếng vỏ chanh đang vắt kiệt mình trong ly Gin&Tonic. Đấy là lúc ta vui.

* * *

Sáng đưa bạn Tít đi học, hai bố con vừa đi vừa nói chuyện. Đến giữa đường, bố buột miệng nói với bạn Tít:
- Bố quên một thứ Tít ạ. Đố Tít biết đấy là gì?
- Tít chịu thôi.
- Thuốc lá, bố trả lời.
- Thế trong cả buổi sáng bố không hút có được không?
- Được.
- Thế cả ngày bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả tháng bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả năm?
- Cũng được.
- Thế thì bố bỏ luôn đi, còn hút làm gì?
- À, thỉnh thoảng bố mới hút thôi, cho vui ấy mà.

Mà đúng thế, vui thì hút thôi, chứ cũng chẳng nghiện ngập gì.

* * *

Chợt nhớ ra đoạn Lâm Ngữ Đường bàn về thú hút thuốc, chép ra đây hầu bà con, nhất là cho những bà con nào đang định bỏ thuốc, hoặc đang bị "đối tác" yêu cầu bỏ thuốc:

"Thế giới ngày nay gồm hai hạng người: hạng hút thuốc và hạng không hút thuốc. Có nhiều người không hút thuốc mà thấy ai cũng mặc, không can thiệp vào, và nhiều bà vợ chịu cho chồng nằm trên giường mà hút thuốc; vợ chồng như vậy thì chắc chắn là có hạnh phúc trong hôn nhân. Nhưng cũng có một số người cho rằng không hút thuốc là có đạo đức, đáng để tự hào; họ không ngờ rằng họ không được hưởng một cái thú lớn nhất của nhân loại. Tôi sẵn sàng chịu nhận rằng hút thuốc là một nhược điểm về phương diện đạo đức, nhưng chúng ta phải đề phòng những người không có một nhược điểm nào; không thể hoàn toàn tín nhiệm ở họ được. Họ có thể lúc nào cũng điều độ, không mắc một lỗi lầm nào cả. Thói quen của họ rất đều đặn, họ hoạt động như một cái máy và lúc nào cũng để trí óc khống chế tâm tình. Tôi mến những người biết điều bao nhiêu thì ghét những người hoàn toàn hợp lý bấy nhiêu. Cho nên vô nhà nào không thấy tàn thuốc lá thì luôn luôn tôi kinh hoảng và khó chịu. Phòng tiếp khách sạch sẽ và ngăn nắp, nệm đặt đúng chỗ, ngay ngắn, chủ nhà thì nghiêm trang mà vô tình. Thấy vậy, tôi phải xốc áo lại cho ngay ngắn, tỏ vẻ lễ độ, chẳng được thư thái chút nào.

Những con người đàng hoàng, chính trực, vô tình cảm, tầm thường đó làm sao biết hưởng cái thú hút thuốc? Vì bọn hút thuốc chúng tôi thường bị người ta công kích về phương diện đạo đức, chứ không phải về phương diện nghệ thuật, cho nên trước hết tôi xin bênh vực đạo đức của chúng tôi đã, mà xét về đại thể tôi cho là cao hơn đạo đức hạng người không hút thuốc. Người nào ngậm ống điếu là người hợp ý tôi. Người đó có tài hơn, vui tính hơn, dễ cởi mở nỗi lòng hơn, đôi khi nói năng bặt thiệp hơn; và dù sao tôi cũng có cảm tưởng người đó mến tôi cũng như tôi mến người đó. Tôi hoàn toàn đồng ý với Thackeray khi ông viết: "Triết gia mà ngậm ống điếu thì minh trí hơn lên, còn kẻ ngu độn mà ngậm ống điếu thì câm cái miệng lại; ống điếu làm cho cuộc đàm thoại có cái phong cách trầm tư, thâm thuý, nhân từ và giản dị". Hơn nữa, một người ngậm ống điếu thì luôn luôn sung sướng mà không có đức nào lớn bằng hạnh phúc.

Muốn nhận đúng được cái giá trị nghệ thuật của thuốc lá thì phải tưởng tượng một người nghiện thuốc mà bỏ thuốc trong một thời gian ngắn. Người nghiện thuốc nào cũng đã có lần điên khùng muốn thoát ly được nàng Yên-thảo-tinh (Nicotine), nhưng sau khi chiến đấu với cái lương tâm tưởng tượng của mình rồi lại khôi phục được lý trí mà "đào điếu lên". Tôi cũng đã có lần ngưng hút trong ba tuần và sau thời kỳ đó lương tâm của tôi đã nhất định kéo tôi trở lại chánh đạo. Hễ còn chút nghị lực thì tôi thề là sẽ không mắc lại cái lỗi điên khùng đó nữa mà sẽ suốt đời sùng bái nàng Yên-thảo-tinh. Sự phát minh vô cùng hữu ích đó giúp cho tinh thần ta được sảng khoái, minh mẫn, mà lại cự tuyệt nó thì quả là một hành vi vô đạo đức. ...

Ta không thể viện một lý do xã hội, chính trị, luân lý hay sinh lý, hay tài chính nào để tự cấm ta đạt được cái tình trạng sảng khoái tinh thần đó, nó làm cho sức tưởng tượng của ta phong phú lên, năng lực sáng tác của ta sung mãn và kích động mạnh lên để có thể hưởng được hết cái thú đàm đạo với bạn thân ở bên lò sưởi, cái thú đọc một áng cổ văn hoặc để tìm nổi một tiếng diễn đúng cái ý của ta trong khi sáng tác. Những lúc đó, ai cũng tự nhiên thấy rằng chỉ đốt một điếu thuốc mới là một hành động thích hợp, chứ bỏ một cục kẹo cao su vào miệng thì là một trọng tội."

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Giữa Đất và Trời lửng lơ những câu hỏi

Giữa những nguyên tắc trong veo mà mình nuôi dưỡng trong đầu với thực tế trái ngược mà mình phải đương đầu trước mắt, có thể nào dung hoà được không trong hành động?

Giải quyết khúc mắc ấy như thế nào là tuỳ mỗi người, có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu câu trả lời.

Nhưng dù trả lời thế nào đi nữa, câu hỏi cũng gây nhức nhối trong tận xương tủy tuy bề ngoài vẫn phải phơn phớt nói cười.

Người hỏi là người đau với câu hỏi ấy, bởi vì đó là câu hỏi bi đát trong bản chất, nhất là đối với những người "dấn thân".

Trích "Giữa Đất và Trời", trong tập Khi tựa gối khi cúi đầu của Cao Huy Thuần, Nhã Nam và Nxb Văn Học, 8/2011.

Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Ước mơ chốn thị thành

Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.

Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.

Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:

“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”

Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:

“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.

Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.

Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”

Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009

Thank you for the music

Khởi đầu là trang SGTT.

Đang trong lúc mọi nơi sôi sục lên vì vụ giải tán IDS thì trang này lại làm một bài dài phỏng vấn bác Phạm Duy Hiển về... lối sống. Đã thế lại còn ghi chú rất rõ ràng rằng ông là "cựu" thành viên IDS.

Nghĩ một lúc cũng thấy logic, vì sống thì phải cãi. Do đó, "lối tranh cãi" hay nôm na là cãi theo kiểu gì cũng là một phần của lối sống. Vì thế, mục Giá trị sống của SGTT cho chạy feature về một thành viên của một cái viện chuyên về cãi, cho dù cái viện đó giờ đã tự giải tán, thì cũng là hợp với lẽ tự nhiên.

Trong bài, bác Hiển có nói một câu tự trào làm mình ngạc nhiên: "Từ lúc nghỉ hưu mình thật sự được tự do. Tự do làm việc, nghỉ ngơi, giao tiếp, nhưng trên hết là tự do cô đơn trong cái không gian học thuật nhỏ bé của mình".

Có lẽ, sau hàng nghìn năm bắc thuộc, "tự do" đã trở thành ham muốn bậc nhất, đến mức ham muốn đó đã ngấm vào máu thịt của mọi người dân Việt. Đến mức hai chữ Tự do đã trở thành một phần trong Slogan của nước Việt bây giờ, thậm chí còn đứng trước cả Hạnh phúc, như một điều kiện cần phải có cho Hạnh phúc.

Vậy mà phải đến lúc nghỉ hưu mới có được tự do "thật sự". Như thế nghĩa là suốt mấy chục năm chưa nghỉ hưu, một nhà khoa học đáng kính như Giáo sư Hiển không được thực sự tự do, hiểu như lập luận ở trên là chưa có hạnh phúc thực sự? Trớ trêu là ở một đất nước tuy nghèo nhưng được đánh giá là một trong những nơi mà con người ở đó cảm thấy hạnh phúc nhất thế giới, cái tiền đề cho hạnh phúc lại chưa được "thật sự".

Nhưng thôi, đến như bác Hiển mà còn phải chấp nhận như vậy, thì cái sự thiếu tự do của mình âu cũng là lẽ thường tình, "có gì mà phải ngợi", đúng không?

Nhưng mình chỉ ngạc nhiên là bác Hiển dùng chữ hay quá: "tự do cô đơn". Từ trước đến giờ mình cứ nghĩ, cứ đánh đồng sự tự do và sự cô đơn, cho rằng tự do hay cô đơn thì cũng là một mà thôi, và cô đơn chính là một biểu hiện của sự tự do, nhưng là một biểu hiện đối lập. Nếu như hầu hết con người sợ hãi sự cô đơn, thì tự do lại chính là trạng thái mà người ta mong đạt được nhất.

Nói vậy thôi chứ nhiều lúc có những gã lại không muốn được tự do, lại muốn ràng buộc mình vào một mối quan hệ nào đấy: quan hệ yêu đương. Gì chứ đang yêu (ràng buộc) mà bị bỏ rơi (được tự do) thì chán ốm. Chán đến nỗi Freddie Mercury đã phải nêu một tuyên ngôn bất hủ về sự tự do trong câu mở đầu của bài It's a Hard Life: "I don't want my freedom" và rồi nối tiếp ngay sau đó: "There's no reasons for living with a broken heart". Có tự do dưng mà tim vỡ rồi thì sống làm qué gì nữa, nhỉ.

Sở dĩ đọc câu nói của bác Hiển, mình lại nhớ ngay đến Queen với It's a Hard Life với câu mở đầu như trên chính là vì, đã có một thời gian dài cách đây rất lâu, mình đã nghĩ như vậy: I don't want my freedom.

Chợt nhớ ra rằng mình lớn lên bằng mồ hôi nước mắt của bố mẹ, nhưng âm nhạc chính là cái đã cưu mang mình, một thứ "shelter from the storm", như Bob Dylan đã hát thế. Có lẽ hôm nào cũng phải làm một bài tổng kết lại xem âm nhạc đã cho mình những gì. Có nhiều thứ, nhưng chắc chắn là nặng nợ.

Vì vậy, chẳng có lý do gì để không nói "Thank you for the music", nhỉ? Thì đây:

Thank you for the music, the songs I'm singing
Thanks for all the joys they're bringing
Who can live without it, I ask with all honesty
What would life be?
Without a song or a dance what are we?

So I say: Thank you for the music, for giving it to me.



Ghi chú: Bấm vào các chữ có hyperlink để đọc, nghe và xem chi tiết.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009

Lại nói tiếp về Đạo đức trong kinh doanh

Hôm trước có trích dẫn vài phát biểu của Luật sư Nguyễn Ngọc Bích về Đạo đức trong kinh doanh, có người đọc bảo "Trừu tượng quá". Thành ra hôm nay phải quay trở lại với một "trích đoạn" khác, đơn giản, trực quan và có nhiều "tính Việt" hơn:

Chữ tín ở đời là tấm chứng minh thư cần thiết đầu tiên của mỗi con người. Có chữ tín rồi, người ta sống mà không cần hứa hẹn gì, vì bản thân chữ tín trong đã to hơn mọi lời hứa.

Cam kết bằng văn bản là lùi một phần trước chữ tín.

Hứa bằng lời là lùi hai bước.

Thề  trước chữ tín là lùi ba bước.

Làm cả ba việc trên đã cam kết, đã hứa, đã thề mà đều không theo được là thất tín.

Thất tín thì dẫn đến bất tín. Đừng trách những lời mắng mỏ lên án sự bất tín. Nếu tấm thẻ đầu tiên để làm người chưa có thì còn mong làm nổi việc gì tử tế ở đời!

Cho nên tôi thành thực kính phục anh bạn tôi đã cúi xuống xin lỗi đứa con bốn tuổi khi anh hứa mua cho nó con gấu bông hôm sinh nhật mà anh trót quên. Anh đã phải “vui lòng” chấp nhận khi nó cáu giận hét toáng lên “con ghét bố” cho dù anh đã xin lỗi. Mẹ mắng nó “con không được hư với bố”. Nó quặc lại “là bố hư, không phải con”! Câu mắng của mẹ nó chỉ đúng một phần nhỏ vì bà chưa hiểu sâu sắc sự thất tín tệ hại nhường nào đến niềm tin!

Cha ông ta bảo “lời nói đọi máu”, đọi là cái bát. Bát máu là sinh mạng, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Làng Nành quê tôi có nghề buôn. Chuyện cũ của làng còn để lại, có một nhà buôn trong làng lấy hàng của ông khách Tàu năm vài ba đợt. Cứ lần giao hàng lại thanh toán lô hàng trước. Bà là một nhà buôn to, mỗi lần nhận hàng trị giá cả trăm ngàn lạng bạc. Một lần cuối giao một lô hàng lớn, rồi ông khách Tàu ra đi không một lần trở lại. Chờ một, hai năm rồi qua mười năm sau vẫn biệt vô âm tín, bà nhẩm số vốn cộng lãi đã dôi ra nhiều phần. Sau chắc rằng ông khách nọ gặp tai nạn gì không còn trên đời nữa nên bà dùng toàn bộ số tiền đó xây lên một ngôi chùa. Đó là Giác Diên tự(*), và dựng tượng ông trong chùa (đấy là ngôi chùa tư duy nhất ở xóm Đỉnh Thượng (xóm 7) của cụ Bá Dinh), để tôn vinh chữ tín trong nghề buôn của người Nành. Tiếc rằng ngôi chùa đó sau bị đổ nát, không còn đến ngày nay để chúng ta cùng chiêm bái.

Trên chục năm trước, một lần về quê tôi thấy một khách đến trả tiền hàng đứa cháu. Bà ấy  quăng cái bao tải tiền xuống nền nhà bảo “đây, mười triệu tất cả” rồi không cả ngồi uống nước, te tái đi ngay. Tôi bảo chưa đếm sao biết là mười triệu? thì cháu tôi cười: mình đếm xong, thừa trả lại, thiếu thì bảo họ đưa sau, lệ thế rồi mà.

Một làng buôn lấy chữ tín làm đầu, không khế ước, không văn tự làm bằng nên sự tồn tại lâu bền là có cái lí của nó.

Để có cái lí ấy, có khi cả quốc gia phải học cách ứng xử với chữ tín của một làng. Làng ấy, những người buôn ít chữ nghĩa lắm, chỉ có mỗi chữ tín nằm trong tâm khảm họ.

Theo bài "Chữ Tín" của bác Đỗ Đức/blogger Đông Ngàn. Bài đã được đăng trên TT&VH ngày 27/12/2008. Trong bài có dùng một chuyện kể lấy từ cuốn "Chuyện cũ làng Nành" của cụ Nguyễn Khắc Quýnh, Nxb Dân tộc, 2004. Làng Nành trong chuyện thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội. 

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009

Nguyễn Ngọc Bích nói về Đạo đức trong kinh doanh

- Chúng ta cần phải thực hiện một cuộc cách mạng văn hóa. Đảng đang đẩy mạnh chủ trương học tập đạo đức Hồ Chí Minh để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội; tức là đến giờ, chúng ta đã nhận thức được trong xã hội thiếu nền tảng đạo đức. Tôi còn nhớ một câu nói của ông Mai Chí Thọ: “Chúng ta đã xây dựng con người chính trị trước khi xây dựng con người bình thường”.


- Năm 1994, viết bài đăng trên báo chí tôi nêu vấn đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế là đạo đức cá nhân; bởi trước đó tôi thấy người ta ít tôn trọng lời hứa. Nền kinh tế thị trường kiểu gì thì cũng chỉ hoạt động được trên nền tảng đạo đức cá nhân. Mỗi người tự mình phải biết kiềm chế mình. Nền kinh tế của ta đang phát triển nhưng vấn đề đạo đức cá nhân chưa được coi trọng. Khi xem xét đạo đức cá nhân thì tôi thấy nó bị tác động bởi giáo dục. Do đó, tôi đi vào giáo dục. Tôi nhìn ra nền tảng của việc giáo dục ở ta; nó là thế nào, tại sao như thế. Đi sâu vào giáo dục tôi thấy nó bị ảnh hưởng bởi gia đình. Tôi bèn đi vào vấn đề gia đình. Từ kinh nghiệm cá nhân tôi nhận ra sự quan trọng của các bà mẹ. Cho hạnh phúc của gia đình và cho sự phát triển của xã hội vai trò của các bà mẹ rất quan trọng. Các ông chồng cần phải nhận ra vai trò quan trọng của vợ mình để biết quý vợ. Khi biết mình được quý – ngoài yêu – các bà sẽ hết lòng chăm sóc chồng con và sẽ thấy mình… ở trên bình đẳng!

- Lâu nay xã hội mình chú trọng nhiều đạo đức nghề nghiệp mà ít xây dựng đạo đức cá nhân – tức là cách cư xử giữa con người bình thường với nhau. Muốn thay đổi điều này phải thay đổi cách giáo dục, bắt đầu từ gia đình, cốt tủy là bà mẹ. Xã hội hiện nay là xã hội trọng vật chất; người ta quan tâm đến việc một người có bao nhiêu tiền nhưng không để ý đến cách thức họ kiếm tiền. Trong khi đó, ở các nước phát triển, người ta coi trọng người có tiền nhưng xét nét cách họ kiếm tiền và người ta chú trọng xây dựng đạo đức cá nhân từ khi con cái còn nhỏ.

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009

Điều quên nói với con


SGTT Nguyệt San - Trong những từ mang âm hưởng ngọt ngào nhất của tiếng Việt mình, có ba tiếng “ngày khai trường”.
Thế hệ của ba, cứ hè đến là lẩm nhẩm “ôi tất cả mùa xuân trong mùa hạ”, rồi đến tháng chín nắng vẫn hanh vàng của phương Nam là quen giọng “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc...”. Trừ những ngày khai trường thời tiểu học đã trôi tuột đâu đó khỏi ký ức, trí nhớ ba vẫn lưu giữ đủ bảy ngày khai trường thuở trung học, và đến nay vẫn còn tiếc sao không có lần thứ tám, thứ chín, thứ mười...
Thế hệ của con, bước vào đời trung học cùng với những lời nhắc nhở: “Chương trình năm nay nặng lắm đó”, “Nhớ hỏi cô lớp học thêm nhé”, “Kiểm tra có khẩu trang y tế trong cặp chưa”, “Đừng mua thức ăn ở cổng trường”... Nhưng điều cần nói nhất thì ba và mẹ đều quên: “Con đang bước vào những ngày đáng nhớ nhất”.
Chúng ta đều nhớ rõ từng chi tiết của ngày cả nhà mình đi Hồ Tràm, đi Vũng Tàu, đi Ninh Chữ... chứ khó nhớ nổi ngày trước đó ba và con hì hục bơm phao cho em thế nào, mẹ đi chợ mua những thức ăn gì để đem theo... bởi hình như đó là một ngày không đáng nhớ. Ừ, có những ngày không đáng nhớ bằng những ngày khác thật, nhưng không hề có những ngày gọi là đáng sống hơn những ngày còn lại. Ba tin lời của một nhà thơ Nga, rằng “Con người sinh ra để sống chứ không phải để chuẩn bị sống”, chứ không tin rằng cần có những năm tháng ép mình khổ hạnh với chữ nghĩa để đầu tư cho danh vọng xênh xang ở tương lai, cần hy sinh đoạn đời bé nhỏ này cho một phần đời thênh thang khác, càng không tin phải chắt bóp dè sẻn ở kiếp này để được thả tay phóng túng ở kiếp sau... Ba đã từng có những ngày ngồi trong lớp học, nhìn ra khoảnh nắng nhỏ ngoài hành lang mà không ngừng mơ về một bầu trời bao la. Giờ đây, khi đã biết đủ về bầu trời, ba mới hiểu chẳng khoảng trời nào mênh mông bằng vệt nắng nhỏ nhoi ở sân trường. Mới hiểu rằng những đứa bạn học ngày ấy mới thật là bạn, những người thầy ngày ấy mới thật là thầy, và bài học của cuộc đời thì không ngọt ngào như những gì ba học được trong bảy năm hoa niên.
Hãy nhớ con đến trường là để sống, để nô đùa nghịch ngợm, để khóc cười với bạn, chứ không chỉ để học. Không có ngày nào không đáng sống, vậy hãy sống trọn vẹn từng ngày trung học, con nhé.
Hữu Bảo

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009

Deus Sive Natura-Copy của bác 5xu

1.

Hôm nọ gọi điện thọai cho anh người quen. Anh này chuyên đánh các dự án lớn. Nghe nói các dự án của anh đang bị trục trặc nên gọi để hỏi thăm. Quả nhiên đúng như vậy. Nói chuyện một hồi, xong tôi bảo: “Chính ra gọi cho anh, anh bảo “đang làm cái gì đấy” em thấy còn hay hơn là nghe anh bảo “tao làm xong rồi”. Không ngờ anh này đồng ý cái rụp: “Mày nói đúng, cái quan trọng là đang làm một cái gì đấy”

Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning – Einstein

2.

Có một lý thuyết thế này. Có thể chia con người (của công việc) ra làm hai lọai. Lọai người Dương và loại người Âm.

+ Người Dương làm việc bài bản, chăm chỉ, mạnh mẽ và quyết đoán. Họ xác định mục tiêu rất rõ ràng. Ví dụ điểm cần đến là D. Và họ vạch kế họach hết sức khoa học và chi tiết để đi từ A qua B đến C rồi kết thúc ở D. Người thuộc loại Dương thường thành công sớm. Rất có tinh thần teamwork. Tuy nhiên họ không có thành công lớn thật lớn.

+ Người Âm làm việc vô lối. Họ đi đến D rất nhanh nhưng không rõ họ đi thế nào. Thậm chí họ cũng không rõ. Họ rất bản năng và bởi vậy cộng tác với họ rất khó. Tuy nhiên nếu có bộ máy supporting tốt hoặc tạo môi trường tốt cho họ, họ đi xa kinh khủng. Có những lúc đi gần đến D họ gặp khó khăn và phải dừng lại và tưởng như họ bỏ cuộc, nhưng lần nào họ cũng thoát hiểm trong gang tấc. Họ là những người thành công lớn thật lớn.

Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere – Einstein

3.

Hằng ngày chúng ta sống trong một thế giới tất định. Sáng là mặt trời lên, tối mặt trời lặn. Nhưng cuộc đời của mỗi người trong đó lại là Bất Định. Không chỉ bất định, mà nó còn phụ thuộc vô số biến số khác về không gian, thời gian, môi trường tương tác xung quanh. Thậm chí phụ thuộc cả quá khứ nữa.

Trong phật giáo, ta chỉ biết chắc được ta và thế giới xung quanh ta ở mỗi khoảnh khắc của cuộc sống (gọi là sát na). Còn sau đó biến hóa thế nào thì hoàn toàn bất định. Nếu tách ta ra khỏi thực tại của từng sát na đó và nhìn ngược trở lại, ta thấy cuộc đời, sự vật và thế giới biến đổi không ngừng và phụ thuộc liên quan linh tinh cả lên. Cái đó gọi là Vô Thường. Còn nếu nhìn vào chính chúng ta, từ bên ngoài, không không gian, không thời gian, và thấu hiểu sự Vô Thường của kiếp người, ta sẽ thấy Vô Ngã.

Before God we are all equally wise – and equally foolish – Einstein

4.

Triết gia người Hà lan thế kỷ 17 tên là Spinoza có một concept thế này “Deus sive Natura ” (”God is Nature”). Trong đó ông phá bỏ thượng đế thần thánh mà đặt thượng đế vào vai trò của Tự nhiên. Bị ảnh hưởng nhiều của Spinoza, sau này Einstein cũng cho rằng Thượng Đế (God) chính là Laws of Nature.

Kể từ ngày có vật lý lượng tử, người ta bỗng nhận ra rằng khi quan sát một thực thể vật lý thì cái mà ta quan sát được còn bị chi phối bởi xác suất (là một điều trong thế giới vật lý tất định chưa bao giờ có). Đồng thời còn có tác động qua lại giữa vật được quan sát và vật đang quan sát. Cả hai điều này dẫn đến một thế giới bất định mà ở đó những gì xảy ra đều chịu ảnh hưởng của xác suất và tương tác qua lại với xung quanh. Cũng có người cho rằng đấy không phải là một thế giới bất định mà là đa thế giới tất định. Các thế giới này đan vào nhau vào tạo ra một thế giới bất định có thể quan sát được, chính là thế giới mà chúng ta đang sống.

Vậy nên không phải vô cớ mà Einstein cho rằng đạo Phật là đạo duy nhất có thể phù hợp với thế giới vật lý hiện đại. Cái bất định của vật lý hiện đại rất giống cái vô thường trong triết lý Phật giáo.

If there is any religion that could cope with modern scientific needs, it would be Buddhism – Einstein

5.

Sống ở thế giới Tất Định. Vạch một kế họach Tất Định. Một bộ óc mạnh mẽ và ý chí mạnh mẽ. Chắc chắn sẽ thành công như tất cả những người Dương khác đang thành công. Nhưng liệu sống ở thế giới Tất Định, nhưng giác ngộ được mọi việc đều Bất Định, cái chính là đến được đích, kế họach chỉ là cho vui. Liệu có thành công được như những người Âm đã và đang thành công khác không?

Liệu có cách nào nhận thức được từng sát na của cuộc sống đang trôi qua mà thấy ta đang luôn làm một cái gì đấy. Để khỏi phải detach mình ra khỏi reality. Để khỏi cần Vô Ngã Vô Minh mà vẫn đạt được mục đích giống như Vô Thường.

Quả là khó.

You can never solve a problem on the level on which it was created – Einstein

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009

Bút lực

Một ví dụ về bút lực.

Coi Nhà đẹp, tản mạn về nhà Việt
GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính

Nghèo dễ làm cho xây dựng khó trở thành kiến trúc
Giàu dễ làm cho kiến trúc trở nên phù phiếm

Nghèo mà có văn hoá, phong lưu
Giàu mà thiếu văn hoá, thực dụng
Thực dụng vô độ, tự biến thành cây khô

Nghèo lâu, giàu nhanh, dễ lẫn xa hoa với Đẹp và Sang
Chừng mực dẫn tới cái Đẹp, vô độ dẫn tới lố lăng

Để Giàu, mất vài năm, để Sang, mất vài đời
Giàu sang đặt bên nhau mà không song hành

Lạc hậu bóp nghẹt cả kiến trúc
Tân tiến quá, đánh mất tính nguyên sơ
Chuộng kỹ thuật quá, đánh mất tính tự nhiên
Tuyệt đối hoá sự hợp lý, đánh mất luôn phần hồn

Nhà không dựng từ móng từ cột
Nhà dựng từ nếp sống và quan niệm sống
Nếp sống Việt là nguồn gien của ngôi nhà Việt
Bản sắc kiến trúc nhà Việt bắt đầu từ nếp sống và cảm thụ Việt

Cái nghèo muôn thưở sản sinh cái Đẹp từ sự hợp lý của cái nghèo
Cái nghèo dẫn tới cái đẹp thô mộc
Bộ đồ nâu và căn nhà tre gỗ cùng một bản chất
Giữa căn nhà Việt và câu ca dao, nhận ra cái chung

Nhà Việt che mà không ngăn
Nhà Việt chia mà không cắt
Đồ vật không lấn át Người
Không gian trống mà không cần lấp đầy


Thời trước, cái sự đủ sát kề với sự thiếu
Thời nay, cái sự đủ sát kề với sự dư
Chớ biến nhà mình thành cửa hàng bách hoá

Ghế càng to, người càng bé

Nghệ thuật tổ chức chốn ở là sự biết nhốt và biết mở không gian, là sự bày đặt đồ vật không thừa không thiếu

ăn giản đơn, nhẹ bụng
Nhà ít đồ, nhẹ người
Tiện như ở khách sạn
Quen như ở nhà mình

Nhà sinh thái là nhà hô hấp
Nhà sinh thái là nhà gắn với địa chỉ

Con cháu kế thừa nếp nhà
Cộng đồng kế thừa đô thị

Ngót 10 năm coi, ngắm và đọc Nhà Đẹp. Không rõ, những người sinh thành và duy dưỡng nó đeo đuổi những gì. Ngấm ngầm nhận ra, văn hoá kiến trúc, thì phải.
Văn hoá kiến trúc là một trong những thứ cần nâng niu, cần vun đắp và truyền bá nhất, khi dân ta đang đến với sự khá giả, đất nước ta đang vươn tới sự thịnh vượng.
Văn hoá kiến trúc sản sinh nhà đẹp
Nhà đẹp là hoa trái của văn hoá kiến trúc

Tản mạn, vô đề, nhân lần lại những cuốn tạp chí Nhà Đẹp.
Hà Nội, đầu đông ấm áp lạ thường

Tháng 11 năm 2006

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009

Ít hơn là nhiều hơn

1. Không phải cho đến khi được giảng giải về "Kinh tế học", tôi mới biết đến những giới hạn về vật chất khiến nảy sinh cả một khoa học để giải quyết vấn đề phân bổ các nguồn lực sao cho có hiệu quả nhất. Ngay từ nhỏ, tôi đã quan niệm rằng mình là một thằng bất tài, cực kỳ giới hạn về năng lực và do vậy, chỉ tập trung vào một công việc trong cùng một thời điểm. Chính vì vậy mà đã qua một nửa cuộc đời, tôi làm được rất ít và điều này càng khẳng định quan niệm về sự bất tài của mình từ hồi còn nhỏ đến giờ vẫn đúng. -:) Tôi vẫn quan niệm "một nghề ăn cơm tám, tám nghề ăn cám rang", tôi thần tượng những chuyên gia vốn thường chỉ focus vào một lĩnh vực, và những thứ mà tôi thích cũng chỉ là những chuyên ngành rất nhỏ hẹp. Chẳng hạn, khi học về đầu tư, tôi đặc biệt thích các lý thuyết về rủi ro, vốn là một chuyên ngành cực hẹp mặc dù rất phức tạp với đủ các loại tính toán dài dòng và khó hiểu. Trên quan điểm đó, khi ra đời đi làm, tôi tất nhiên theo đuổi lý thuyết về năng lực lõi, tức là một doanh nghiệp chỉ nên phát triển dựa trên năng lực cốt yếu của mình, dù mở rộng thế nào thì cũng chỉ xoay quanh cái "lõi" đó thôi.

Vậy nên tôi đồ rằng mọi người hiện nay quá lạm dụng vào một trong những công cụ phòng ngừa rủi ro có cái tên gọi mỹ miều là "đa dạng hoá". Khi một nhà đầu tư mở rộng danh mục đầu tư của mình để giảm thiểu rủi ro, kiểu như một anh đang nuôi gà thì cũng nên nuôi thêm lợn, để đề phòng nếu gà có bị cúm thì lợn vẫn còn đó (tất nhiên đến giờ có cả cúm lợn rồi thì có lẽ anh ta nên chuyển sang nuôi bò, hí hí), nhưng tựu trung lại vẫn dựa trên cái năng lực lõi của anh ta là khả năng chăn nuôi. Chứ nếu một ngày đẹp trời anh ta thấy lợn gà thải ra nhiều phân quá, anh ta thấy tiếc, anh ta bảo có lẽ nên làm thêm cái vườn trồng nhiều cây để lấy phân bón  cho cây trong khi không có kiến thức về trồng trọt thì anh vẫn có thể "tèo" như thường, như cái mô hình VAC rộ lên khoản chục năm trước đây mà giờ chẳng có ai nhắc đến nữa. Đó chỉ là một sự "thuận tiện", mà sự thuận tiện chỉ phù hợp với quy mô nhỏ. Khi doanh nghiệp lớn lên, nó phải được quản trị theo "khoa học" chứ không phải là sự thuận tiện.

Vậy nên cách đây vài năm tôi đã cười khi thấy rộ lên phong trào tập đoàn. Các công ty lớn thi nhau upgrade lên thành tập đoàn, bằng các quyết định hành chính chứ không phải là theo trình tự phát triển và những đòi hỏi xuất phát từ chính hoạt động của doanh nghiệp. Kéo theo đó là sự ồ ạt đầu tư ra ngoài ngành mà đến giờ mới thấy rõ hậu quả, rồi mới quay lại "xem xét" vấn đề tập đoàn. Có lẽ, các bung xung do các tập đoàn nhà nước gây ra rồi sẽ lại được giải quyết bằng một quyết định hành chính khác, như khi nó được sinh ra vậy.

Mà không chỉ có khu vực nhà nước, ngay cả khu vực tư nhân được cho là có học, năng động và không phụ thuộc quá nhiều vào các quyết định hành chính, cũng đang ồ ạt thành lập các tập đoàn. Mỗi khi đọc cái tên "Công ty Cổ phần Tập đoàn XYZ... " là tôi lại không cười được. Có lẽ không ở nơi nào trên trái đất này lại có các khái niệm kỳ lạ như ở Việt Nam, ngay cả ở Thái Lan, một đất nước tự quảng bá mình bằng slogan rất nổi là "Amazing Thailand". Những cái tên đó gợi cho tôi nhớ đến danh mục ngành nghề đăng ký kinh doanh của những công ty tư nhân mới thành lập, chưa tìm được hướng đi nên trút vào đó đủ các lĩnh vực, từ đại lý bán vé máy bay, môi giới nhà đất, tư vấn đầu tư, cho đến kinh doanh ... sắt vụn và hầm bà lằng những thứ mà người chủ doanh nghiệp thấy xung quanh mình. Tôi thường gọi đó là những doanh nghiệp "quả mít".

Những doanh nghiệp như trên thường là không thành công, hoặc giả, nếu có thành công thì cũng là vì sau đó họ đã cắt bớt những ngành nghề "râu ria" đi để tập trung vào một hoặc hai lĩnh vực chính, những lĩnh vực tạo ra nhiều lợi nhuận nhất cho họ. Những bài học thất bại trong việc mở rộng lĩnh vực kinh doanh đã khiến giới doanh nghiệp phải tổng kết và đúc rút thành một bài học đến nay được lan truyền rộng rãi: Less is More. Quản lý ngoài việc là một khoa học, nó còn là một nghệ thuật, vì vậy mới có những nghịch lý "phi khoa học" như thế.

Như Khổng Tử đã phát biểu cách đây hàng nghìn năm: Kẻ nào săn cùng một lúc hai con thỏ ắt sẽ trở về tay không".

2. Đã t lâu tôi thường dy lên câu hi, ti sao nhng người lao công cc nhc vn tìm thy nhiu tiếng cười, những nhà sư khổ hạnh ăn ít, ngủ ít, làm lụng nhiều và gần như chẳng sở hữu nhiều “vật chất”, lại vẫn tìm thấy nhiều niềm vui và sống lâu đến vậy (tất nhiên phải trừ yếu tố tập luyện). Câu hỏi đó càng dấy lên sau buổi trà đá vỉa hè mà tôi đã đề cập ở entry trước. Liệu có phải cái xu hướng “tối giản” trong kiến trúc đem áp dụng vào cuộc sống sẽ đem lại nhiều hạnh phúc hơn chăng? Sự “thanh đạm” có phải là chìa khoá mở cánh cửa giải thoát giữa cuộc sống bộn bề và đầy bất trắc. Câu trả lời có lẽ là đúng. Giống như khi ta từ bỏ sự đa dạng hoá để trở về với năng lực lõi vậy.

Và thật là may mắn khi cũng cách đây hàng nghìn năm đã có những người lập lên những thuyết như vậy. Đó là các triết gia Yếm thế (*) Hy Lạp. Dưới đây là một đoạn trích về các triết gia này, lấy từ cuốn “Thế giới của Sophie”.

Truyện kể rằng một lần Socrates đứng ngắm một gian hàng bán đủ các loại hàng hoá. Cuối cùng, ông nói “Thật lắm thứ mà tôi chẳng cần đến”. Đó thật sự là cảm giác của tôi mỗi lần vào siêu thị Metro, và trên thực tế tôi thường tự ngăn mình đi vào các siêu thị, tất nhiên, trừ các quầy hàng thực phẩm, hí hí hí.

Câu nói trên có lẽ đã là phương châm cho trường phái triết học “yếm thế” do Antisthenes sáng lập ở Athens vào khoảng năm 400 trước công nguyên.

Antisthenes là một học trò của Socrates, và là người đặc biệt chú ý đến sự thanh đạm của ông.

Các triết gia yếm thế nhấn mạnh rằng hạnh phúc chân chính không có trong các yếu tố thuận lợi bên ngoài chẳng hạn sự giàu sang, quyền lực chính trị và sức khoẻ tốt (!?). Hạnh phúc chân chính là ở sự không phụ thuộc vào những thứ ngẫu nhiên và phù du đó. Và bởi vì hạnh phúc không bao gồm những lợi ích thuộc kiểu đó, nó nằm trong tầm tay của mọi người. Hơn nữa, một khi đã tìm được, nó sẽ không bao giờ bị tuột mất.

Triết gia yếm thế nổi tiếng nhất là Diogenes, một học trò của Antisthenes. Người ta kể rằng ông chỉ sống trong một cái thùng và chẳng có gì ngoài một cái áo choàng, một cây gậy và một túi bánh mì. (Do vậy chẳng có gì ăn trộm được hạnh phúc của ông!) Một hôm, ông được Alexander Đại Đế đến thăm khi ông đang ngồi sưởi nắng bên cạnh cái thùng. Vị Hoàng đế đứng trước mặt ông và hỏi xem ông có mong muốn điều gì không. Diogenes nói: “Có. Tôi muốn Ngài đứng tránh sang một bên. Ngài đang chắn mặt trời.” Như vậy, ông cho thấy mình hạnh phúc và giàu có chẳng kém người đàn ông vĩ đại trước mặt mình. Ông “” mọi thứ mà ông muốn. (Mặc dù, theo toàn bộ những người còn lại trên trái đất này, ông chẳng có gì ngoài cái thùng gỗ, cây gậy và túi bánh mì, hê hê). 

Rõ ràng, ở điểm này, phương Đông (đạo Phật) và phương Tây đã gặp gỡ nhau từ cách đây hàng nghìn năm, chứ không phải đợi đến khi có con đường tơ lụa.

Hơn hai nghìn năm sau, giới quản trị kinh doanh mới lại tìm ra một luận điểm mà các triết gia đã nghĩ đến từ lâu: Less is More.

(*) Ngày nay từ Yếm thế đã mang ý nghĩa về sự hoài nghi nhạo báng về sự chân thật của con người, và hàm ý sự vô cảm trước nỗi đau khổ của người khác.  

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Đoàn Minh Phượng

Có lẽ nên bắt đầu với Đoàn Minh Phượng bằng tản văn này: Tại sao tôi đọc tiểu thuyết. Có một đoạn rất hay, trích ra post lại ở đây:


Ngôn ngữ của chúng ta có một giới từ rất thông dụng là từ “để”. Học bài để thi đậu, đi làm để kiếm tiền, giao tiếp xã hội để có người quen mà nhờ vả, đi du lịch để mở mang kiến thức, nghe bài Cô Thắm về làng để thư giãn. Tôi nghĩ rằng gắn được vế sau của mỗi câu ở phía sau chữ “để” cho mỗi việc tôi làm là tôi có được mục đích lớn của cuộc đời: nó là tổng số của những mục đích nhỏ xíu và nhỏ vừa, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm.
Cho đến một hôm, một người bạn cho rằng tôi không biết sống trong hiện tại. Tôi sống, cùng lắm, chỉ được một nửa. Tôi nói: “Sống mới một nửa mà đã quá khó, sống trọn làm sao làm nổi?” Người bạn hỏi tôi: “Đứng một chân và đứng hai chân, cái nào khó hơn?”
Tôi về nghĩ lại.
Cuộc sống tôi là một chuỗi hoạt động đuổi theo những mục đích ở phía trước. Cuộc đời xảy ra vào ngày mai. Không bao giờ có hôm nay. Không bao giờ có sự ung dung trong hiện tại. Hình như lúc nào tôi cũng đang cố giữ thăng bằng, tôi như người đứng một chân thật.
.............
Để sống trọn vẹn hơn, theo người bạn học thiền của tôi, khi nói câu nào chỉ cần bỏ đi chữ “để” và cái vế đi sau đó. Đọc sách chứ không phải đọc sách để tích tụ kiến thức cho ngày mai. Nhìn trăng chứ không phải nhìn trăng để tâm hồn thư giãn. Để tâm hồn thư giãn không có gì sai, nhưng nó giới hạn sự nhìn trăng, cũng như đi tìm kiến thức trong một quyển sách loại bỏ những thứ khác trong quyển sách đó không được định nghĩa là kiến thức.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2008

Người vô sự

Đời là cuộc chạy đua hay cuộc dạo chơi. Sống là đấu tranh cho ham muốn hay an nhiên với điều mình đang có. Cuốn "Người vô sự" sẽ trò chuyện cùng ai cần tìm hiểu ý nghĩa trong mỗi khoảnh khắc nhân sinh.

Người vô sự gồm hai nội dung chính. Phần 1 là tác phẩm Lâm Tế Ngữ Lục của vị Tổ Lâm Tế. Tổ Lâm Tế là người xuất gia, học tập nhiều về kinh, luật và luận. Cuối cùng, ông quyết định chọn dòng tu thiền để đạt được chứng ngộ mà không phí hoài cuộc đời trong sự tìm kiếm, học hỏi vô ích. Lâm Tế Ngữ Lục do một đệ tử của ông là Pháp sư Tuệ Nhiên ghi chép lại những bài giảng, những cuộc đối thoại, trò chuyện giữa Tổ với vị sư và đệ tử.

Phần thứ hai của cuốn sách là bình giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về những điều Tổ Lâm Tế truyền dạy.

Đúng như cuốn sách nêu ra "Ngồi chơi với Tổ...", trong cuốn sách dày gần 740 trang này, ngôn ngữ thiền và triết thấm đẫm qua từng câu chữ. Từng mẩu chuyện, từng lời bình giảng ngụ ý về lối sống thảnh thơi, sống an lạc, giảm thiểu những sân si trong tâm hồn và giúp con người có niềm tin vào bản thân.

Những mẩu chuyện nêu ra trong sách khiến người đọc phải suy nghĩ: Việc gì phải vận vào thân mình những điều mình không thể làm được, những việc mình không có khả năng làm, hoặc cố khoác lên "chiếc áo" cao xa nào đấy mà không bao giờ mình với tới được. Sống thực, sống đúng, sống hết khả năng mình và sống cho hiện tại là điều mà sách muốn nói đến.

Như một bông hoa dại nở trong ngách, trong khe núi vẫn lặng lẽ khoe sắc ngát hương. Như một người đang đói, cần ra vườn hái quả cà chua ăn mà vẫn khoan thai sải bước chứ không hấp tấp. Hai chữ "vô sự" trong sách không là trốn đời, lánh đời hay thờ ơ với sự vật, con người xung quanh; "vô sự" ở đây là thấu hiểu được chất thiền của bản ngã, của vạn vật, của sự sống để mà vui sống. 

Chính vì người vô sự là người tự do, ở đâu hay trong hoàn cảnh nào cũng làm chủ được bản thân mình, nên Thiền sư Thích Nhất Hạnh bình giảng: "... để sống từng giây phút an lạc, vui tươi, mỗi người phải tự mình đừng cột buộc, dính chặt vào quá khứ, vào những kỷ niệm đã trôi qua. Hoặc đừng bắt "cái tôi" của mình phải thổn thức, trăn trở với những ảo ảnh xa vời của trí tưởng tượng về tương lai chưa đến".

Không giáo điều, cũng không tham vọng mang đến tư tưởng quá cao xa, Người vô sự đơn giản có thể chỉ là "chiếc túi hồ lô giữ thuốc giải" cho những phiền não, mệt mỏi, để con người có thể an nhiên tự tại trong từng khoảnh khắc cuộc đời.

Anh Vân - Theo VnExpress

Thiền sư Nhất Hạnh và "Người vô sự"

Tin thiền sư Thích Nhất Hạnh sắp về Việt Nam dự Đại lễ Phật đản quốc tế Vesak Liên Hiệp Quốc tổ chức vào giữa tháng 5.2008 đã gây bao chờ đợi không chỉ đối với đông đảo phật tử và thiền sinh, mà còn cả với giới nghiên cứu về thiền và những người muốn tìm hiểu thiền học.

Bởi vì, sự có mặt của thiền sư Nhất Hạnh sắp tới sẽ mở ra những cuộc gặp gỡ đầy thiền vị cùng những khóa tu thiền từ làng Mai mang đến. Song điều hấp dẫn và lưu giữ lâu bền hơn chính là những gì ông thuyết giảng hoặc sáng tác, được ghi lại qua nhiều tác phẩm và đang phổ biến rộng rãi tại Việt Nam. Đó là các tác phẩm: Đường xưa mây trắng, Nẻo vào thiền học, Không diệt không sinh đừng sợ hãi, Giếng nước thơm trong, Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt…

Lần này cũng vậy, trong dịp Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc, một loạt tác phẩm của Nhất Hạnh được giới thiệu trân trọng, mà theo chúng tôi, cuốn sách nặng ký nhất là Người vô sự, dày 740 trang, đang có mặt tại nhiều nhà sách trên cả nước. 

Có thể nói đây là tác phẩm chứa đựng những lời hướng dẫn sâu sắc về "đời sống thiền" mà ai cũng có khả năng thực hiện, miễn là họ nhận ra "một trời thanh tịnh" luôn tồn tại bên trong mình, để được hạnh phúc "ngay bây giờ". Điều ấy không phải nói cho hay, cho đẹp, mà đã được bản thân tác giả, thiền sư Nhất Hạnh trải nghiệm trong đời sống thường nhật.

Ông nói, để sống từng giây phút an lạc, vui tươi, mỗi người phải tự mình đừng cột buộc, dính chặt vào quá khứ, vào những kỷ niệm đã trôi qua. Hoặc đừng bắt "cái tôi" của mình phải thổn thức, trăn trở với những ảo ảnh xa vời của trí tưởng tượng về tương lai chưa đến. Là vì "quá khứ đã trôi qua, tương lai chưa đến, hiện tại thì không bao giờ dừng trụ" nên cần phải vượt lên "dòng thời gian" để sống.

Điều này được Nhất Hạnh kể lại bằng chính những ví dụ về ông. Số là năm 1966 ông có viết cuốn Hoa sen trong biển lửa xuất bản tại Sài Gòn. Đến năm 1986, ông từ Pháp sang Amsterdam (Hà Lan) dự một hội thảo có mặt nhiều nhà trí thức quốc tế. Bấy giờ một giáo sư thần học đứng dậy hỏi thiền sư Nhất Hạnh là trong cuốn Hoa sen trong biển lửa vì sao thiền sư lại viết thế này, thế này... Thiền sư trả lời: "Tôi đâu có viết cuốn Hoa sen trong biển lửa!" khiến ông giáo sư trố mắt ra ngạc nhiên, vì ông đã đọc cuốn sách rất kỹ. Thiền sư giải thích: "Ông giáo sư thần học sẽ không thể hiểu được (câu trả lời kia) với bộ óc quen suy luận theo lối cũ. Sự thật rõ ràng, người đang đứng trước ông là một thực thể sống động, vậy mà ông không tiếp xúc với người đó, lại để mình tiếp xúc với một bóng ma của hai mươi năm về trước. Hai mươi năm trước, Thích Nhất Hạnh đã nói những điều trong quyển sách đó để giải quyết những vấn đề của hai mươi năm về trước. Hiện tại, Thích Nhất Hạnh đang ở đây, đang uống trà, đang đàm luận về những vấn đề thuộc sự sống ngày hôm nay, ông không tiếp xúc với cái hiện tại của tôi mà lại muốn tiếp xúc với một bóng ma của quá khứ. Tôi tức là tôi của ngày hôm nay, còn người viết cuốn sách đó đã chết rồi. Nhưng không biết ông giáo sư thần học ấy có hiểu không? Đó là ngôn ngữ của thiền".

Ngôn ngữ thiền tràn đầy qua những câu chuyện như thế trong Người vô sự, được lồng trong những lời bình giảng của thiền sư Nhất Hạnh về ngữ lục của tổ Lâm Tế. Vì thế cuốn sách có cái tựa khá dài, nếu viết đầy đủ phải là: Lâm Tế ngữ lục đại toàn: Người vô sự. Nhưng thiết nghĩ, chỉ cần ba chữ Người vô sự là quá đủ rồi. Vì ba chữ ấy gói ghém được điều tổ Lâm Tế xưa kia chỉ dạy và điều thiền sư Nhất Hạnh đời nay muốn giảng, rằng: "Dù cho quý vị có ở một mình trên đỉnh cô phong, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt đêm, không đặt lưng xuống giường... Dù cho quý vị có bố thí cả thành quách quốc gia, cả vợ con, bố thí cả đầu mắt, tủy não, voi ngựa, mọi thứ của mình đều đem ra cho hết..., tất cả đều không bằng làm một người vô sự...".

Vậy Người vô sự là gì? Bạn có thể tự tìm câu trả lời cho mình sau khi gấp sách lại.

Giao Hưởng

Tập... cúi đầu

Bài này lấy từ blog của anh Xuân Bình - một freelancer mà mình rất khâm phục.

Phim và Bút yêu quý!

Hôm nọ, trong bữa ăn tối vui vẻ, cả nhà mình có một cuộc Tự Bạch thật thú vị. Mỗi người đều tranh thủ nói cho hết cái hay, điều dở của nhau. Mẹ và các con đã giành cho bố quá nhiều nhận xét hay ho. Ngượng ghê lắm! Nhưng mọi người chỉ nói về bố có vài điều dở. Phim bảo bố quá đen nên thật khó khăn khi gây thiện cảm với các bạn gái. Mẹ bảo bố rất luộm thuộm. Bút nói bố chẳng mua nhiều đồ chơi.

Thú thực, điều dở nhất về cuộc sống riêng của bố chính là một chuỗi những thất bại, những cú ngã. Lần ngã sau đau đớn hơn. Thất bại kế tiếp lúc nào cũng ê chề hơn. Chuỗi sự kiện buồn tẻ ấy bắt đầu từ khi bố đọc thấy các bút danh của lão hờ cờ mờ đăng trên báo Nhân Dân. Hình như ngày đó bố mới bằng tuổi Phim. Kể từ đó khao khát trở thành một con người tự do, thoát bỏ nô lệ cứ lớn dần lên trong bố. Bố ước mình là một phần trái tim, khối óc của cơ thể dân tộc này. Nhưng trớ trêu thay, bố chỉ luôn thấy mình là những quả trứng ung thối thoát khỏi cơ thể đàn bà hàng tháng. Bố như là một đống chất thải rất nặng mùi cứ chật ứ ở ruột già mà mọi cơ chế hiện tồn đều muốn tống bỏ mỗi ngày. Những khát vọng của thời trai trẻ càng ngày càng gần với ảo vọng. Mục đích hướng đến cứ thoát dần tầm nhìn. Đã từ lâu, bố không còn lưu hai từ Chiến Thắng trong bộ nhớ. Bố không dám tự căn vặn mình vì những câu hỏi tại sao, thế nào. Điều bố luôn mong mỏi là làm gì để các con đừng bao giờ đi theo vết xe đổ của cả lão hờ cờ mờ cũng như bố- những kẻ đi trước khốn nạn và bất hạnh.

Bài học lớn nhất bố thu nhặt được từ cuộc đời khốn khó này chính là chưa bao giờ được thực sự…tập ngã. Thế hệ của bố và nhiều thế hệ khác chỉ luôn tạo cho mình dáng ngẩng cao đầu hiên ngang, ưỡn ngực đón gió, tâm trí luôn tràn ngập một cảm hứng hào sảng gần như không tưởng. Không mấy ai được dạy bảo hoặc tự rèn luyện kỹ năng… Ngã!

Phim và Bút yêu quý! Bố cứ nghĩ lẩn thẩn như thế khi nhìn các con đang lướt đi trên những bánh xe patin, khi các con đang ngã oành oạch trên sàn đá… Mấy ngày qua, sau những thất bại ê chề trong công việc mới, một lần nữa bố bị cuộc sống sa thải, bố đang từ từ trở lại với nhịp sống bình an như trước đây. Bố giành nhiều thời gian cùng chơi với các con hơn.

Cũng như bố lao vào công việc, các con ra sân thật giống các vận động viên chuyên nghiệp. Tinh thần chơi thể thao thực sự mạnh mẽ như là các chiến binh. Khát khao chiến thắng chẳng khác bất kỳ người trẻ tuổi nào đang được đứng trước thách thức mới.

Nhưng khi buộc cho các con những miếng đệm chống chấn thương ở đầu gối tay, chân, dây mũ bảo hiểm, xiết chặt lại các bánh xe…bố thấy giữa chúng ta bắt đầu có sự khác biệt. Đường đua trong cuộc đời bố không có ai trả giúp cho những chi phí bảo hiểm này. Không có ai đủ hiểu biết để có thể thực sự ân cần dìu dắt những bước đi đầu tiên. Và đâu đớn hơn là lại có rất nhiều người muốn bố…ngã.

Bố nhìn say mê những giọt mồ hôi lăn trên má các con, những vệt bẩn các con quệt ngang mặt rồi lại quan sát kỹ những chiếc giày. Mỗi giày trượt có bốn bánh xe. Bố như nhìn thấy các con có tới…tám cái chân. Những cái chân tiếp xúc với đất rất ít nhưng lại dễ dàng quay tít. Bởi thế các con có thể lướt đi nhanh hơn, có lúc lại cảm thấy như đang bay, một khoái cảm thật mới mẻ và lạ lùng đúng không? Phim như thấy mình có khả năng của siêu nhân. Bút rất sung sướng như khi xem Pen Ten biến hóa. Còn bố lại vẹn nguyên tâm trạng ngậm ngùi.

Khi nào sung sướng nhất lại cũng là lúc dễ ngã nhất. Mỗi khi Bút đập mạnh mông hay ngã sóng xoài trên đất bố lại thấy thót cả ngực. Bố không nựng, không nâng đỡ Bút đứng dậy. Bố lại gần và nói thầm: Đừng trêu tức đôi mông của mình như thế! Đừng làm hỏng hết gạch đá như thế hahhahhaha! Đừng vồ ếch như thế! Nhìn kìa, gương mặt đẹp đe của con có khác gì quả bóng xà phòng, nó thật dễ vỡ đấy nhé!

Con biết vì sao lại ngã không?

Con ngã xóng xoài là vì toàn thân luống cuống, bối rối. Ngã sấp là vì cái đầu kiêu ngạo muốn tỏ rõ vị thế …tiên phong của mình. Ngã ngửa là bởi vì cái chân kia sao lại vội vàng đòi chạy nhanh hơn cái mông, cái lưng và cái …đầu?

Muốn không ngã, chân phải bước nhịp nhàng, tay quạt đều, lao thân mình về phía trước và điều rất quan trọng là phải biết….chúi đầu.

Những vận động viên chuyên nghiệp thì nói rằng: trong tư thế đó, toàn bộ cơ thể của các con được giữ cân bằng, được chuyển động cùng một tốc độ, được giảm đi rất nhiều lực cản của không khí. Kỹ năng này giúp cho vận động viên có thể giành thành tích cao trong thi đấu.

Vậy mà trong nhiều chặng đua cuộc đời, thật vô lối khi chẳng khi nào bố chịu rạp mình hay chúi đầu. Hậu quả rành rành, điều dễ thấy là bố luôn ngã dúi dụi ở một xó xỉnh nào đó. Bố chưa một lần ngẩng cao đầu đăng quang ở một bệ bục vinh quang mà xung quanh đang có thật đông bọn người vô thức, xúm xít, ồn ã chờ đón, sẵn sàng tung hô, ngưỡng mộ, sùng kính…kẻ chiến thắng.

Mọi nơi, mọi lúc bố luôn treo lơ lửng trên đầu mình câu hỏi: có nên tập…cúi đầu?

Hãy trả lời giúp bố đi hai chàng trai!

(Xuân Bình)

Thứ Năm, 4 tháng 9, 2008

Bông hồng cài áo

Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không "lớn" lên được. Cằn cỗi , héo mòn.

Ngày mẹ tôi mất, tôi viết trong nhật ký: Tai nạn lớn nhất đã xẩy ra cho tôi rồi! Lớn đến mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi. Những bài hát, bài thơ ca tụng tình mẹ bài nào cũng dễ, cũng hay. Người viết dù không có tài ba, cũng có rung cảm chân thành; người hát ca, trừ là kẻ không có mẹ ngay từ thuở chưa có ý niệm, ai cũng cảm động khi nghe nói đến tình mẹ.

Những bài hát ca ngợi tình mẹ đâu cũng có, thời nào cũng có. Bài thơ mất mẹ mà tôi thích nhất, từ hồi nhỏ, là một bài thơ rất giản dị. Mẹ đang còn sống, nhưng mỗi khi đọc bài thơ ấy thì sợ sệt, lo âu.... sợ sệt lo âu một cái gì còn xa, chưa đến, nhưng chưa chắc chắn phải đến :

Năm xưa tôi còn nhỏ
Mẹ tôi đã qua đời !
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Im lặng tôi sầu thôi
Để dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi...

Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.

Một bầu trời thương yêu dịu ngọt, lâu quá mình đã bơi lội trong đó, sung sướng mà không hay, để hôm nay bừng tỉnh thì thấy đã mất rồi. Người nhà quê Việt nam không ưa cách nói cao kỳ. Nói rằng bà mẹ già là kho tàng của yêu thương, của hạnh phúc thì cũng đã là cao kỳ rồi. Nói mẹ già là một thứ chuối, một thứ xôi, một thứ đường ngọt dịu, người dân quê đã diễn tả được tình mẹ một cách vừa giản dị vừa đúng mức :

Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một, như đường mía lau.

Ngon biết bao ! Những lúc miệng vừa đắng vừa nhạt sau một cơn sốt, những lúc như thế thì không có món ăn gì có thể gợi được khẩu vị của ta. Chỉ khi nào mẹ đến, kéo chăn đắp lên ngực cho ta, đặt bàn tay (Bàn tay ? hay là tơ trời đâu la miên ?) trên trán nóng ta và than thở "khổ chưa, con tôi ", ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, ngọt thơm như chuối ba hương, dịu như xôi nếp một, và đậm đà lịm cả cổ họng như đường mía lau. Tình mẹ thì trường cửu, bất tuyệt; như chuối ba hương, đường mía lau, xôi nếp một ấy không bao giờ cùng tận.

Công cha như núi Thái sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra .

Nước trong nguồn chảy ra thì bất tuyệt. Tình mẹ là gốc của mọi tình cảm yêu thương. Mẹ là giáo sư dạy về yêu thương, một phân khoa quan trọng nhất trong trường đại học cuộc đời. Không có mẹ, tôi sẽ không biết thương yêu. Nhờ mẹ mà tôi được biết tình nhân loại, tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi biết được thế nào là tình nhân loại, tình chúng sinh; nhờ mẹ mà tôi có được chút ý niệm về đức từ bi. Vì mẹ là gốc của tình thương, nên ý niệm mẹ lấn trùm ý thương yêu của tôn giáo vốn dạy về tình thương.

Đạo Phật có đức Quan Thế Âm, tôn sùng dưới hình thức mẹ. Em bé vừa mở miệng khóc thì mẹ đã chạy tới bên nôi. Mẹ hiện ra như một thiên thần dịu hiền làm tiêu tan khổ đau lo âu. Đạo Chúa có đức Mẹ, thánh nữ đồng trinh Maria. Trong tín ngưỡng bình dân Việt có thánh mẫu Liễu Hạnh, cũng dưới hình thức mẹ. Bởi vì chỉ cần nghe đến danh từ Mẹ, ta đã thấy lòng tràn ngập yêu thương rồi. Mà từ yêu thương tín ngưỡng và hành động thì không xa chi mấy bước.

Tây phương không có ngày Vu Lan nhưng cũng có Ngày Mẹ ( Mother"s Day ) mồng mười tháng năm. Tôi nhà quê không biết cái tục ấy. Có một ngày tôi đi với Thầy Thiên Ân tới nhà sách ở khu Ginza ở Đông Kinh, nửa đường gặp mấy người sinh viên Nhật, bạn của thầy Thiên Ân. Có một cô sinh viên hỏi nhỏ Thầy Thiên Ân một câu, rồi lấy ở trong sắc ra một bông hoa cẩm chướng màu trắng cài vào khuy áo tràng của tôi. Tôi lạ lùng, bỡ ngỡ, không biết cô làm gì, nhưng không dám hỏi, cố giữ vẻ tự nhiên, nghĩ rằng có một tục lệ chi đó. Sau khi họ nói chuyện xong, chúng tôi vào nhà sách, thầy Thiên Ân mới giảng cho tôi biết đó là Ngày Mẹ, theo tục Tây phương. Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo, và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng.

Tôi nhìn lại bông hoa trắng trên áo mà bỗng thấy tủi thân. Tôi cũng mồ côi như bất cứ một đứa trẻ vô phúc khốn nạn nào; chúng tôi không có được cái tự hào được cài trên áo một bông hoa màu hồng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù người đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ, và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi có khóc than cũng không còn kịp nữa. Tôi thấy cái tục cài hoa đó đẹp và nghĩ rằng mình có thể bắt chước áp dụng trong ngày báo hiếu Vu Lan.

Mẹ là một dòng suối, một kho tàng vô tận, vậy mà lắm lúc ta không biết, để lãng phí một cách oan uổng. Mẹ là một món qùa lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Đừng có đợi đến khi mẹ chết rồi mới nói: "trời ơi, tôi sống bên mẹ suốt mấy mươi năm trời mà chưa có lúc nào nhìn kỹ được mặt mẹ!". Lúc nào cũng chỉ nhìn thoáng qua. Trao đổi vài câu ngắn ngủi. Xin tiền ăn quà. Đòi hỏi mọi chuyện. Ôm mẹ mà ngủ cho ấm. Giận dỗi. Hờn lẫy. Gây bao nhiêu chuyện rắc rối cho mẹ phải lo lắng, ốm mòn, thức khuya dậy sớm vì con. Chết sớm cũng vì con. Để mẹ phải suốt đời bếp núc, vá may, giặt rửa, dọn dẹp. Và để mình bận rộn suốt đời lên xuống ra vào lợi danh. Mẹ không có thì giờ nhìn kỹ con. Và con không có thì giờ nhìn kỹ mẹ. Để khi mẹ mất mình có cảm nghĩ: "Thật như là mình chưa bao giờ có ý thức rằng mình có mẹ!"

Chiều nay khi đi học về, hoặc khi đi làm việc ở sở về, em hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và thật bền. Em sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi em sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang còn sống và đang ngồi bên em. Cầm tay mẹ, em sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Em hỏi: " Mẹ ơi, mẹ có biết không ?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ hỏi em, vừa hỏi vừa cười "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, vẫn giữ nụ cười trầm lặng và bền, em sẽ nói: "Mẹ có biết là con thương mẹ không ?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù người lớn ba bốn mươi tuổi người cũng có thể hỏi một câu như thế, bởi vì người là con của mẹ. Mẹ và em sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Mẹ và em sẽ đều trở thành bất diệt và ngày mai, mẹ mất, em sẽ không hối hận, đau lòng.

Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Kiền Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương Tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương hiếu chỉ là giả tạo, khô khan, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận.

Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát thì uống nước. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ phải đây không phải là luân lý, là bổn phận. Phải đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. con cần mẹ, mẹ cần con. Nếu mẹ không cần con, con không cần mẹ, thì đó không phải là mẹ là con. Đó là lạm dụng danh từ mẹ con. Ngày xưa thầy giáo hỏi rằng: "Con mà thương mẹ thì phải làm thế nào?" Tôi trả lời: "Vâng lời, cố gắng, giúp đỡ, phụng dưỡng lúc mẹ về già và thờ phụng khi mẹ khuất núi". Bây giờ thì tôi biết rằng: Con thương mẹ thì không phải "làm thế nào" gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi " làm thế nào " nữa!

Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức. Anh mà nghĩ rằng tôi viết bài này để khuyên anh về luân lý đạo đức là anh lầm. Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ. Mẹ như suối ngọt, như đường mía lau, như xôi nếp một. Anh không hưởng thụ thì uổng cho anh. Chị không hưởng thụ thì thiệt hại cho chị. Tôi chỉ cảnh cáo cho anh chị biết mà thôi. Để mai này anh chị đừng có than thở rằng: Đời ta không còn gì cả. Một món quà như mẹ mà còn không vừa ý thì họa chăng có làm Ngọc hoàng Thượng đế mới vừa ý, mới bằng lòng, mới sung sướng. Nhưng tôi biết Ngọc hoàng không sung sướng đâu, bởi Ngọc hoàng là đấng tự sinh, không bao giờ có diễm phúc có được một bà mẹ.

Tôi kể chuyện này, anh đừng nói tôi khờ dại. Đáng nhẽ chị tôi không đi lấy chồng, và tôi, tôi không nên đi tu mới phải. Chúng tôi bỏ mẹ mà đi, người thì theo cuộc đời mới bên cạnh người con trai thương yêu, người thì đi theo lý tưởng đạo đức mình say mê và tôn thờ. Ngày chị tôi đi lấy chồng, mẹ tôi lo lắng lăng xăng, không tỏ vẻ buồn bã chi.

Nhưng đến khi chúng tôi ăn cơm trong phòng, ăn qua loa để đợi giờ rước dâu, thì mẹ tôi không nuốt được miếng nào. Mẹ nói: "Mười tám năm trời nó ngồi ăn cơm với mình, bây giờ nó ăn bữa cuối cùng rồi thì nó sẽ đi ăn ở một nhà khác". Chị tôi gục đầu xuống mâm khóc. Chị nói: "Thôi con không lấy chồng nữa". Nhưng rốt cuộc thì chị cũng đi lấy chồng. Còn tôi thì bỏ mẹ mà đi tu. "Cắt ái từ sở thân" là lời khen ngợi người có chí xuất gia. Tôi không tự hào chi về lời khen đó cả. Tôi thương mẹ, nhưng tôi có lý tưởng, vì vậy phải xa mẹ. Thiệt thòi cho tôi, có thế thôi. Ở trên đời, có nhiều khi ta phải chọn lựa. Mà không có sự chọn lựa nào mà không khổ đau. Anh không thể bắt cá hai tay. Chỉ khổ là vì muốn làm người nên anh phải khổ đau. Tôi không hối hận vì bỏ mẹ đi tu nhưng tôi tiếc và thương cho tôi vô phúc thiệt thòi nên không được hưởng thụ tất cả kho tàng qúi báu đó. Mỗi buổi chiều lạy Phật, tôi cầu nguyện cho mẹ. Nhưng tôi không được ăn chuối ba hương, xôi nếp một và đường mía lau.

Anh cũng đừng tưởng tôi khuyên anh: "Không nên đuổi theo sự nghiệp mà chỉ nên ở nhà với mẹ!". Tôi đã nói là tôi không khuyên răn gì hết -- tôi không giảng luân lý đạo đức -- rồi mà! Tôi chỉ nhắc anh: "Mẹ là chuối, là xôi, là đường, là mật, là ngọt ngào, là tình thương". Để chị đừng quên, để em đừng quên. Quên là một lỗi lớn : Cũng không phải là lỗi nữa, mà là một sự thiệt thòi. Mà tôi không muốn anh chị thiệt thòi, khờ dại mà bị thiệt thòi. Tôi xin cài vào túi áo anh một bông hoa hồng: để anh sung sướng, thế thôi.

Nếu có khuyên, thì tôi sẽ khuyên anh, như thế này. Chiều nay, khi đi học hoặc đi làm về, anh hãy vào phòng mẹ với một nụ cười thật trầm lặng và bền. Anh sẽ ngồi xuống bên mẹ. Sẽ bắt mẹ dừng kim chỉ, mà đừng nói năng chi. Rồi anh sẽ nhìn mẹ thật lâu, thật kỹ, để trông thấy mẹ và để biết rằng mẹ đang sống và đang ngồi bên anh. Cầm tay mẹ, anh sẽ hỏi một câu ngắn làm mẹ chú ý. Anh hỏi: "Mẹ ơi, mẹ có biết không?" Mẹ sẽ hơi ngạc nhiên và sẽ nhìn anh, vừa cười vừa hỏi: "Biết gì?" Vẫn nhìn vào mắt mẹ, giữ nụ cười trầm lặng và bền, anh sẽ hỏi tiếp: "Mẹ có biết là con thương mẹ không?" Câu hỏi sẽ không cần được trả lời. Cho dù anh lớn ba bốn mươi tuổi, chị lớn ba bốn mươi tuổi, thì anh cũng hỏi một câu ấy. Bởi vì anh, bởi vì chị, bởi vì em là con của mẹ. Mẹ và anh sẽ sung sướng, sẽ sống trong tình thương bất diệt. Và ngày mai mất mẹ, Anh sẽ không hối hận, đau lòng , tiếc rằng anh không có mẹ.

Đó là điệp khúc tôi muốn ca hát cho anh nghe hôm nay. Và anh hãy ca, chị hãy ca cho cuộc đời đừng chìm trong vô tâm, quên lãng. Đóa hoa mầu hồng tôi cài trên áo anh rồi đó. Anh hãy sung sướng đi.

NHẤT HẠNH (1962)