Recent Posts
Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011
Tiếng gọi lúc nửa đêm
* * *
Sáng đưa bạn Tít đi học, hai bố con vừa đi vừa nói chuyện. Đến giữa đường, bố buột miệng nói với bạn Tít:
- Bố quên một thứ Tít ạ. Đố Tít biết đấy là gì?
- Tít chịu thôi.
- Thuốc lá, bố trả lời.
- Thế trong cả buổi sáng bố không hút có được không?
- Được.
- Thế cả ngày bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả tháng bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả năm?
- Cũng được.
- Thế thì bố bỏ luôn đi, còn hút làm gì?
- À, thỉnh thoảng bố mới hút thôi, cho vui ấy mà.
Mà đúng thế, vui thì hút thôi, chứ cũng chẳng nghiện ngập gì.
* * *
Chợt nhớ ra đoạn Lâm Ngữ Đường bàn về thú hút thuốc, chép ra đây hầu bà con, nhất là cho những bà con nào đang định bỏ thuốc, hoặc đang bị "đối tác" yêu cầu bỏ thuốc:
"Thế giới ngày nay gồm hai hạng người: hạng hút thuốc và hạng không hút thuốc. Có nhiều người không hút thuốc mà thấy ai cũng mặc, không can thiệp vào, và nhiều bà vợ chịu cho chồng nằm trên giường mà hút thuốc; vợ chồng như vậy thì chắc chắn là có hạnh phúc trong hôn nhân. Nhưng cũng có một số người cho rằng không hút thuốc là có đạo đức, đáng để tự hào; họ không ngờ rằng họ không được hưởng một cái thú lớn nhất của nhân loại. Tôi sẵn sàng chịu nhận rằng hút thuốc là một nhược điểm về phương diện đạo đức, nhưng chúng ta phải đề phòng những người không có một nhược điểm nào; không thể hoàn toàn tín nhiệm ở họ được. Họ có thể lúc nào cũng điều độ, không mắc một lỗi lầm nào cả. Thói quen của họ rất đều đặn, họ hoạt động như một cái máy và lúc nào cũng để trí óc khống chế tâm tình. Tôi mến những người biết điều bao nhiêu thì ghét những người hoàn toàn hợp lý bấy nhiêu. Cho nên vô nhà nào không thấy tàn thuốc lá thì luôn luôn tôi kinh hoảng và khó chịu. Phòng tiếp khách sạch sẽ và ngăn nắp, nệm đặt đúng chỗ, ngay ngắn, chủ nhà thì nghiêm trang mà vô tình. Thấy vậy, tôi phải xốc áo lại cho ngay ngắn, tỏ vẻ lễ độ, chẳng được thư thái chút nào.
Những con người đàng hoàng, chính trực, vô tình cảm, tầm thường đó làm sao biết hưởng cái thú hút thuốc? Vì bọn hút thuốc chúng tôi thường bị người ta công kích về phương diện đạo đức, chứ không phải về phương diện nghệ thuật, cho nên trước hết tôi xin bênh vực đạo đức của chúng tôi đã, mà xét về đại thể tôi cho là cao hơn đạo đức hạng người không hút thuốc. Người nào ngậm ống điếu là người hợp ý tôi. Người đó có tài hơn, vui tính hơn, dễ cởi mở nỗi lòng hơn, đôi khi nói năng bặt thiệp hơn; và dù sao tôi cũng có cảm tưởng người đó mến tôi cũng như tôi mến người đó. Tôi hoàn toàn đồng ý với Thackeray khi ông viết: "Triết gia mà ngậm ống điếu thì minh trí hơn lên, còn kẻ ngu độn mà ngậm ống điếu thì câm cái miệng lại; ống điếu làm cho cuộc đàm thoại có cái phong cách trầm tư, thâm thuý, nhân từ và giản dị". Hơn nữa, một người ngậm ống điếu thì luôn luôn sung sướng mà không có đức nào lớn bằng hạnh phúc.
Muốn nhận đúng được cái giá trị nghệ thuật của thuốc lá thì phải tưởng tượng một người nghiện thuốc mà bỏ thuốc trong một thời gian ngắn. Người nghiện thuốc nào cũng đã có lần điên khùng muốn thoát ly được nàng Yên-thảo-tinh (Nicotine), nhưng sau khi chiến đấu với cái lương tâm tưởng tượng của mình rồi lại khôi phục được lý trí mà "đào điếu lên". Tôi cũng đã có lần ngưng hút trong ba tuần và sau thời kỳ đó lương tâm của tôi đã nhất định kéo tôi trở lại chánh đạo. Hễ còn chút nghị lực thì tôi thề là sẽ không mắc lại cái lỗi điên khùng đó nữa mà sẽ suốt đời sùng bái nàng Yên-thảo-tinh. Sự phát minh vô cùng hữu ích đó giúp cho tinh thần ta được sảng khoái, minh mẫn, mà lại cự tuyệt nó thì quả là một hành vi vô đạo đức. ...
Ta không thể viện một lý do xã hội, chính trị, luân lý hay sinh lý, hay tài chính nào để tự cấm ta đạt được cái tình trạng sảng khoái tinh thần đó, nó làm cho sức tưởng tượng của ta phong phú lên, năng lực sáng tác của ta sung mãn và kích động mạnh lên để có thể hưởng được hết cái thú đàm đạo với bạn thân ở bên lò sưởi, cái thú đọc một áng cổ văn hoặc để tìm nổi một tiếng diễn đúng cái ý của ta trong khi sáng tác. Những lúc đó, ai cũng tự nhiên thấy rằng chỉ đốt một điếu thuốc mới là một hành động thích hợp, chứ bỏ một cục kẹo cao su vào miệng thì là một trọng tội."
Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011
Giữa Đất và Trời lửng lơ những câu hỏi
Giải quyết khúc mắc ấy như thế nào là tuỳ mỗi người, có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu câu trả lời.
Nhưng dù trả lời thế nào đi nữa, câu hỏi cũng gây nhức nhối trong tận xương tủy tuy bề ngoài vẫn phải phơn phớt nói cười.
Người hỏi là người đau với câu hỏi ấy, bởi vì đó là câu hỏi bi đát trong bản chất, nhất là đối với những người "dấn thân".
Trích "Giữa Đất và Trời", trong tập Khi tựa gối khi cúi đầu của Cao Huy Thuần, Nhã Nam và Nxb Văn Học, 8/2011.
Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010
Ước mơ chốn thị thành
Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.
Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.
Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:
“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”
Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:
“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.
Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.
Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”
Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.
Thứ Ba, 29 tháng 9, 2009
Thank you for the music
Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2009
Lại nói tiếp về Đạo đức trong kinh doanh
Chữ tín ở đời là tấm chứng minh thư cần thiết đầu tiên của mỗi con người. Có chữ tín rồi, người ta sống mà không cần hứa hẹn gì, vì bản thân chữ tín trong đã to hơn mọi lời hứa.
Cam kết bằng văn bản là lùi một phần trước chữ tín.
Hứa bằng lời là lùi hai bước.
Thề trước chữ tín là lùi ba bước.
Làm cả ba việc trên đã cam kết, đã hứa, đã thề mà đều không theo được là thất tín.
Thất tín thì dẫn đến bất tín. Đừng trách những lời mắng mỏ lên án sự bất tín. Nếu tấm thẻ đầu tiên để làm người chưa có thì còn mong làm nổi việc gì tử tế ở đời!
Cho nên tôi thành thực kính phục anh bạn tôi đã cúi xuống xin lỗi đứa con bốn tuổi khi anh hứa mua cho nó con gấu bông hôm sinh nhật mà anh trót quên. Anh đã phải “vui lòng” chấp nhận khi nó cáu giận hét toáng lên “con ghét bố” cho dù anh đã xin lỗi. Mẹ mắng nó “con không được hư với bố”. Nó quặc lại “là bố hư, không phải con”! Câu mắng của mẹ nó chỉ đúng một phần nhỏ vì bà chưa hiểu sâu sắc sự thất tín tệ hại nhường nào đến niềm tin!
Cha ông ta bảo “lời nói đọi máu”, đọi là cái bát. Bát máu là sinh mạng, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Làng Nành quê tôi có nghề buôn. Chuyện cũ của làng còn để lại, có một nhà buôn trong làng lấy hàng của ông khách Tàu năm vài ba đợt. Cứ lần giao hàng lại thanh toán lô hàng trước. Bà là một nhà buôn to, mỗi lần nhận hàng trị giá cả trăm ngàn lạng bạc. Một lần cuối giao một lô hàng lớn, rồi ông khách Tàu ra đi không một lần trở lại. Chờ một, hai năm rồi qua mười năm sau vẫn biệt vô âm tín, bà nhẩm số vốn cộng lãi đã dôi ra nhiều phần. Sau chắc rằng ông khách nọ gặp tai nạn gì không còn trên đời nữa nên bà dùng toàn bộ số tiền đó xây lên một ngôi chùa. Đó là Giác Diên tự(*), và dựng tượng ông trong chùa (đấy là ngôi chùa tư duy nhất ở xóm Đỉnh Thượng (xóm 7) của cụ Bá Dinh), để tôn vinh chữ tín trong nghề buôn của người Nành. Tiếc rằng ngôi chùa đó sau bị đổ nát, không còn đến ngày nay để chúng ta cùng chiêm bái.
Trên chục năm trước, một lần về quê tôi thấy một khách đến trả tiền hàng đứa cháu. Bà ấy quăng cái bao tải tiền xuống nền nhà bảo “đây, mười triệu tất cả” rồi không cả ngồi uống nước, te tái đi ngay. Tôi bảo chưa đếm sao biết là mười triệu? thì cháu tôi cười: mình đếm xong, thừa trả lại, thiếu thì bảo họ đưa sau, lệ thế rồi mà.
Một làng buôn lấy chữ tín làm đầu, không khế ước, không văn tự làm bằng nên sự tồn tại lâu bền là có cái lí của nó.
Để có cái lí ấy, có khi cả quốc gia phải học cách ứng xử với chữ tín của một làng. Làng ấy, những người buôn ít chữ nghĩa lắm, chỉ có mỗi chữ tín nằm trong tâm khảm họ.
Theo bài "Chữ Tín" của bác Đỗ Đức/blogger Đông Ngàn. Bài đã được đăng trên TT&VH ngày 27/12/2008. Trong bài có dùng một chuyện kể lấy từ cuốn "Chuyện cũ làng Nành" của cụ Nguyễn Khắc Quýnh, Nxb Dân tộc, 2004. Làng Nành trong chuyện thuộc xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội.
Thứ Tư, 16 tháng 9, 2009
Nguyễn Ngọc Bích nói về Đạo đức trong kinh doanh
- Chúng ta cần phải thực hiện một cuộc cách mạng văn hóa. Đảng đang đẩy mạnh chủ trương học tập đạo đức Hồ Chí Minh để xây dựng nền tảng đạo đức xã hội; tức là đến giờ, chúng ta đã nhận thức được trong xã hội thiếu nền tảng đạo đức. Tôi còn nhớ một câu nói của ông Mai Chí Thọ: “Chúng ta đã xây dựng con người chính trị trước khi xây dựng con người bình thường”.
- Năm 1994, viết bài đăng trên báo chí tôi nêu vấn đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế là đạo đức cá nhân; bởi trước đó tôi thấy người ta ít tôn trọng lời hứa. Nền kinh tế thị trường kiểu gì thì cũng chỉ hoạt động được trên nền tảng đạo đức cá nhân. Mỗi người tự mình phải biết kiềm chế mình. Nền kinh tế của ta đang phát triển nhưng vấn đề đạo đức cá nhân chưa được coi trọng. Khi xem xét đạo đức cá nhân thì tôi thấy nó bị tác động bởi giáo dục. Do đó, tôi đi vào giáo dục. Tôi nhìn ra nền tảng của việc giáo dục ở ta; nó là thế nào, tại sao như thế. Đi sâu vào giáo dục tôi thấy nó bị ảnh hưởng bởi gia đình. Tôi bèn đi vào vấn đề gia đình. Từ kinh nghiệm cá nhân tôi nhận ra sự quan trọng của các bà mẹ. Cho hạnh phúc của gia đình và cho sự phát triển của xã hội vai trò của các bà mẹ rất quan trọng. Các ông chồng cần phải nhận ra vai trò quan trọng của vợ mình để biết quý vợ. Khi biết mình được quý – ngoài yêu – các bà sẽ hết lòng chăm sóc chồng con và sẽ thấy mình… ở trên bình đẳng!
- Lâu nay xã hội mình chú trọng nhiều đạo đức nghề nghiệp mà ít xây dựng đạo đức cá nhân – tức là cách cư xử giữa con người bình thường với nhau. Muốn thay đổi điều này phải thay đổi cách giáo dục, bắt đầu từ gia đình, cốt tủy là bà mẹ. Xã hội hiện nay là xã hội trọng vật chất; người ta quan tâm đến việc một người có bao nhiêu tiền nhưng không để ý đến cách thức họ kiếm tiền. Trong khi đó, ở các nước phát triển, người ta coi trọng người có tiền nhưng xét nét cách họ kiếm tiền và người ta chú trọng xây dựng đạo đức cá nhân từ khi con cái còn nhỏ.
Thứ Ba, 1 tháng 9, 2009
Điều quên nói với con
Thứ Tư, 26 tháng 8, 2009
Deus Sive Natura-Copy của bác 5xu
1.
Hôm nọ gọi điện thọai cho anh người quen. Anh này chuyên đánh các dự án lớn. Nghe nói các dự án của anh đang bị trục trặc nên gọi để hỏi thăm. Quả nhiên đúng như vậy. Nói chuyện một hồi, xong tôi bảo: “Chính ra gọi cho anh, anh bảo “đang làm cái gì đấy” em thấy còn hay hơn là nghe anh bảo “tao làm xong rồi”. Không ngờ anh này đồng ý cái rụp: “Mày nói đúng, cái quan trọng là đang làm một cái gì đấy”
Learn from yesterday, live for today, hope for tomorrow. The important thing is not to stop questioning – Einstein
2.
Có một lý thuyết thế này. Có thể chia con người (của công việc) ra làm hai lọai. Lọai người Dương và loại người Âm.
+ Người Dương làm việc bài bản, chăm chỉ, mạnh mẽ và quyết đoán. Họ xác định mục tiêu rất rõ ràng. Ví dụ điểm cần đến là D. Và họ vạch kế họach hết sức khoa học và chi tiết để đi từ A qua B đến C rồi kết thúc ở D. Người thuộc loại Dương thường thành công sớm. Rất có tinh thần teamwork. Tuy nhiên họ không có thành công lớn thật lớn.
+ Người Âm làm việc vô lối. Họ đi đến D rất nhanh nhưng không rõ họ đi thế nào. Thậm chí họ cũng không rõ. Họ rất bản năng và bởi vậy cộng tác với họ rất khó. Tuy nhiên nếu có bộ máy supporting tốt hoặc tạo môi trường tốt cho họ, họ đi xa kinh khủng. Có những lúc đi gần đến D họ gặp khó khăn và phải dừng lại và tưởng như họ bỏ cuộc, nhưng lần nào họ cũng thoát hiểm trong gang tấc. Họ là những người thành công lớn thật lớn.
Logic will get you from A to B. Imagination will take you everywhere – Einstein
3.
Hằng ngày chúng ta sống trong một thế giới tất định. Sáng là mặt trời lên, tối mặt trời lặn. Nhưng cuộc đời của mỗi người trong đó lại là Bất Định. Không chỉ bất định, mà nó còn phụ thuộc vô số biến số khác về không gian, thời gian, môi trường tương tác xung quanh. Thậm chí phụ thuộc cả quá khứ nữa.
Trong phật giáo, ta chỉ biết chắc được ta và thế giới xung quanh ta ở mỗi khoảnh khắc của cuộc sống (gọi là sát na). Còn sau đó biến hóa thế nào thì hoàn toàn bất định. Nếu tách ta ra khỏi thực tại của từng sát na đó và nhìn ngược trở lại, ta thấy cuộc đời, sự vật và thế giới biến đổi không ngừng và phụ thuộc liên quan linh tinh cả lên. Cái đó gọi là Vô Thường. Còn nếu nhìn vào chính chúng ta, từ bên ngoài, không không gian, không thời gian, và thấu hiểu sự Vô Thường của kiếp người, ta sẽ thấy Vô Ngã.
Before God we are all equally wise – and equally foolish – Einstein
4.
Triết gia người Hà lan thế kỷ 17 tên là Spinoza có một concept thế này “Deus sive Natura ” (”God is Nature”). Trong đó ông phá bỏ thượng đế thần thánh mà đặt thượng đế vào vai trò của Tự nhiên. Bị ảnh hưởng nhiều của Spinoza, sau này Einstein cũng cho rằng Thượng Đế (God) chính là Laws of Nature.
Kể từ ngày có vật lý lượng tử, người ta bỗng nhận ra rằng khi quan sát một thực thể vật lý thì cái mà ta quan sát được còn bị chi phối bởi xác suất (là một điều trong thế giới vật lý tất định chưa bao giờ có). Đồng thời còn có tác động qua lại giữa vật được quan sát và vật đang quan sát. Cả hai điều này dẫn đến một thế giới bất định mà ở đó những gì xảy ra đều chịu ảnh hưởng của xác suất và tương tác qua lại với xung quanh. Cũng có người cho rằng đấy không phải là một thế giới bất định mà là đa thế giới tất định. Các thế giới này đan vào nhau vào tạo ra một thế giới bất định có thể quan sát được, chính là thế giới mà chúng ta đang sống.
Vậy nên không phải vô cớ mà Einstein cho rằng đạo Phật là đạo duy nhất có thể phù hợp với thế giới vật lý hiện đại. Cái bất định của vật lý hiện đại rất giống cái vô thường trong triết lý Phật giáo.
If there is any religion that could cope with modern scientific needs, it would be Buddhism – Einstein
5.
Sống ở thế giới Tất Định. Vạch một kế họach Tất Định. Một bộ óc mạnh mẽ và ý chí mạnh mẽ. Chắc chắn sẽ thành công như tất cả những người Dương khác đang thành công. Nhưng liệu sống ở thế giới Tất Định, nhưng giác ngộ được mọi việc đều Bất Định, cái chính là đến được đích, kế họach chỉ là cho vui. Liệu có thành công được như những người Âm đã và đang thành công khác không?
Liệu có cách nào nhận thức được từng sát na của cuộc sống đang trôi qua mà thấy ta đang luôn làm một cái gì đấy. Để khỏi phải detach mình ra khỏi reality. Để khỏi cần Vô Ngã Vô Minh mà vẫn đạt được mục đích giống như Vô Thường.
Quả là khó.
You can never solve a problem on the level on which it was created – Einstein
Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009
Bút lực
Giàu dễ làm cho kiến trúc trở nên phù phiếm
Nghèo mà có văn hoá, phong lưu
Giàu mà thiếu văn hoá, thực dụng
Thực dụng vô độ, tự biến thành cây khô
Nghèo lâu, giàu nhanh, dễ lẫn xa hoa với Đẹp và Sang
Chừng mực dẫn tới cái Đẹp, vô độ dẫn tới lố lăng
Để Giàu, mất vài năm, để Sang, mất vài đời
Giàu sang đặt bên nhau mà không song hành
Lạc hậu bóp nghẹt cả kiến trúc
Tân tiến quá, đánh mất tính nguyên sơ
Chuộng kỹ thuật quá, đánh mất tính tự nhiên
Tuyệt đối hoá sự hợp lý, đánh mất luôn phần hồn
Nhà không dựng từ móng từ cột
Nhà dựng từ nếp sống và quan niệm sống
Nếp sống Việt là nguồn gien của ngôi nhà Việt
Bản sắc kiến trúc nhà Việt bắt đầu từ nếp sống và cảm thụ Việt
Cái nghèo muôn thưở sản sinh cái Đẹp từ sự hợp lý của cái nghèo
Cái nghèo dẫn tới cái đẹp thô mộc
Bộ đồ nâu và căn nhà tre gỗ cùng một bản chất
Giữa căn nhà Việt và câu ca dao, nhận ra cái chung
Nhà Việt che mà không ngăn
Nhà Việt chia mà không cắt
Đồ vật không lấn át Người
Không gian trống mà không cần lấp đầy
Thời trước, cái sự đủ sát kề với sự thiếu
Thời nay, cái sự đủ sát kề với sự dư
Chớ biến nhà mình thành cửa hàng bách hoá
Ghế càng to, người càng bé
Nghệ thuật tổ chức chốn ở là sự biết nhốt và biết mở không gian, là sự bày đặt đồ vật không thừa không thiếu
ăn giản đơn, nhẹ bụng
Nhà ít đồ, nhẹ người
Tiện như ở khách sạn
Quen như ở nhà mình
Nhà sinh thái là nhà hô hấp
Nhà sinh thái là nhà gắn với địa chỉ
Con cháu kế thừa nếp nhà
Cộng đồng kế thừa đô thị
Ngót 10 năm coi, ngắm và đọc Nhà Đẹp. Không rõ, những người sinh thành và duy dưỡng nó đeo đuổi những gì. Ngấm ngầm nhận ra, văn hoá kiến trúc, thì phải.
Văn hoá kiến trúc là một trong những thứ cần nâng niu, cần vun đắp và truyền bá nhất, khi dân ta đang đến với sự khá giả, đất nước ta đang vươn tới sự thịnh vượng.
Văn hoá kiến trúc sản sinh nhà đẹp
Nhà đẹp là hoa trái của văn hoá kiến trúc
Tản mạn, vô đề, nhân lần lại những cuốn tạp chí Nhà Đẹp.
Hà Nội, đầu đông ấm áp lạ thường
Tháng 11 năm 2006
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2009
Ít hơn là nhiều hơn
2. Đã từ lâu tôi thường dấy lên câu hỏi, tại sao những người lao công cực nhọc vẫn tìm thấy nhiều tiếng cười, những nhà sư khổ hạnh ăn ít, ngủ ít, làm lụng nhiều và gần như chẳng sở hữu nhiều “vật chất”, lại vẫn tìm thấy nhiều niềm vui và sống lâu đến vậy (tất nhiên phải trừ yếu tố tập luyện). Câu hỏi đó càng dấy lên sau buổi trà đá vỉa hè mà tôi đã đề cập ở entry trước. Liệu có phải cái xu hướng “tối giản” trong kiến trúc đem áp dụng vào cuộc sống sẽ đem lại nhiều hạnh phúc hơn chăng? Sự “thanh đạm” có phải là chìa khoá mở cánh cửa giải thoát giữa cuộc sống bộn bề và đầy bất trắc. Câu trả lời có lẽ là đúng. Giống như khi ta từ bỏ sự đa dạng hoá để trở về với năng lực lõi vậy.
Và thật là may mắn khi cũng cách đây hàng nghìn năm đã có những người lập lên những thuyết như vậy. Đó là các triết gia Yếm thế (*) Hy Lạp. Dưới đây là một đoạn trích về các triết gia này, lấy từ cuốn “Thế giới của Sophie”.
Truyện kể rằng một lần Socrates đứng ngắm một gian hàng bán đủ các loại hàng hoá. Cuối cùng, ông nói “Thật lắm thứ mà tôi chẳng cần đến”. Đó thật sự là cảm giác của tôi mỗi lần vào siêu thị Metro, và trên thực tế tôi thường tự ngăn mình đi vào các siêu thị, tất nhiên, trừ các quầy hàng thực phẩm, hí hí hí.
Câu nói trên có lẽ đã là phương châm cho trường phái triết học “yếm thế” do Antisthenes sáng lập ở Athens vào khoảng năm 400 trước công nguyên.
Antisthenes là một học trò của Socrates, và là người đặc biệt chú ý đến sự thanh đạm của ông.
Các triết gia yếm thế nhấn mạnh rằng hạnh phúc chân chính không có trong các yếu tố thuận lợi bên ngoài chẳng hạn sự giàu sang, quyền lực chính trị và sức khoẻ tốt (!?). Hạnh phúc chân chính là ở sự không phụ thuộc vào những thứ ngẫu nhiên và phù du đó. Và bởi vì hạnh phúc không bao gồm những lợi ích thuộc kiểu đó, nó nằm trong tầm tay của mọi người. Hơn nữa, một khi đã tìm được, nó sẽ không bao giờ bị tuột mất.
Triết gia yếm thế nổi tiếng nhất là Diogenes, một học trò của Antisthenes. Người ta kể rằng ông chỉ sống trong một cái thùng và chẳng có gì ngoài một cái áo choàng, một cây gậy và một túi bánh mì. (Do vậy chẳng có gì ăn trộm được hạnh phúc của ông!) Một hôm, ông được Alexander Đại Đế đến thăm khi ông đang ngồi sưởi nắng bên cạnh cái thùng. Vị Hoàng đế đứng trước mặt ông và hỏi xem ông có mong muốn điều gì không. Diogenes nói: “Có. Tôi muốn Ngài đứng tránh sang một bên. Ngài đang chắn mặt trời.” Như vậy, ông cho thấy mình hạnh phúc và giàu có chẳng kém người đàn ông vĩ đại trước mặt mình. Ông “có” mọi thứ mà ông muốn. (Mặc dù, theo toàn bộ những người còn lại trên trái đất này, ông chẳng có gì ngoài cái thùng gỗ, cây gậy và túi bánh mì, hê hê).
Rõ ràng, ở điểm này, phương Đông (đạo Phật) và phương Tây đã gặp gỡ nhau từ cách đây hàng nghìn năm, chứ không phải đợi đến khi có con đường tơ lụa.
Hơn hai nghìn năm sau, giới quản trị kinh doanh mới lại tìm ra một luận điểm mà các triết gia đã nghĩ đến từ lâu: Less is More.
