Recent Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Thơ thẩn ngày 17/4

1. Tôi vốn không thích thơ. Bằng chứng là cho đến giờ tôi thực không tài nào nhớ nổi bất kỳ đoạn thơ nào. Thời học phổ thông, trong các kỳ thi môn văn, nếu đề thi yêu cầu phân tích một đoạn thơ mà không trích dẫn toàn bộ đoạn thơ đó, tôi chỉ còn biết viết nhăng cuội cho hết vài trang giấy hòng kiếm điểm Năm. Thành thử, tôi rất ngưỡng mộ những người thuộc thơ, không những thế lại còn thuộc lâu, bao năm rồi mà vẫn nhớ. Tôi cũng được nghe kể, có những cụ bà, chỉ là người bán hàng xén hoặc một người nông dân đầu tắt mặt tối mà vẫn có thể thuộc lòng Truyện Kiều và Chinh Phụ Ngâm. Đối với tôi những người đó thực sự là nghệ sĩ nhân dân.

2. Tuy vậy tôi cũng có đọc thơ. Nguyên là vì hồi nhỏ có rất ít sách, thành thử cứ vớ được bất kỳ cái gì có chữ là đọc, có khi chỉ là một mẩu báo nhóm lò cũng phải đọc cho hết rồi mới châm lửa đốt. Và thơ cũng không phải là một ngoại lệ, vì nó có chữ. -:) Tôi nhớ những tập thơ đầu tiên mà tôi được đọc, là tuyển tập “Tình bạn, tình yêu, thơ”, khổ nhỏ, của ông chú hơn tôi có mười tuổi thời đó đang bước vào tuổi thanh niên; và tập Thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ mà bố tôi rất thích.

3. Có một khoảng trống khoảng 15 năm tôi không đọc các tác phẩm văn học, cho mãi đến gần đây tôi mới đọc lại, trong đó có thơ. Về nguồn cảm hứng cho tôi đọc lại thơ, có lẽ phải kể đến công của loạt bài trên Thanh Niên cách đây vài năm giới thiệu Bùi Giáng. Tôi bắt đầu đọc lại thơ từ đó, lần lượt từ Bàng Giúi tiên sinh cho đến Trần Vàng Sao, Phùng Quán, Nguyễn Duy, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Xuân Quỳnh, Lưu Quang Vũ, Quang Dũng, Hữu Loan, Phùng Cung,... Không phải vì tôi trở nên lẩn thẩn mà đọc lại thơ, tôi coi thơ như một thứ thuốc thử, khi đọc được một bài thơ mà vẫn đồng cảm được với tác giả, vẫn thấy thú, tôi hiểu rằng tâm hồn tôi vẫn chưa bị thương trường làm cho vẩn đục, chưa bị cùn mòn đi. Tôi vẫn còn có thể sống một cuộc sống theo đúng nghĩa, một cuộc sống đẹp.

4. Tôi rất cảm ơn Nhã Nam đã lần lượt ra các tuyển tập thơ của các tác giả mà tôi yêu thích. Trong các nhà thơ miền Bắc, mong đợi của tôi là có thêm được tuyển thơ của Hữu Loan và Nguyễn Bính. Uớc sao Nhã Nam không biến mong mỏi của tôi thành nỗi mong đợi ngậm ngùi.

5. Đọc một vài người thơ, không hiểu sao tôi thấy mình hợp với Lưu Quang Vũ. Giản dị, hiện thực, không màu mè, nhiều cay đắng. Song hành cùng với ông hẳn không thể không nhắc đến Xuân Quỳnh. Tôi đã đọc hồi ký của Đông Mai, chị của Xuân Quỳnh, một cuốn hồi ký làm tôi rất xúc động, một phần vì chính cuộc đời của bà, phần khác, tôi nhận thấy ở Xuân Quỳnh, ngoại trừ năng lực thơ văn, hình bóng của chính mẹ tôi, người mà cho đến tháng Tám này đã bỏ tôi đi tròn 24 năm.

6. Nhắc đến mẹ, gần đây tôi cứ tự hỏi, không biết thời còn trẻ, bà có đọc thơ văn gì không. Tôi chắc là giờ này nếu còn sống trên cõi đời, bà hẳn cũng sẽ đang ngồi bên hiên nhà, thảnh thơi đọc vài bài thơ của Xuân Quỳnh. Có lẽ lần tới về quê, tôi sẽ đòi bố tôi cho tôi đọc lại toàn bộ thư từ mà bố và mẹ tôi đã trao đổi ngày hai người còn xa cách, vì chiến tranh.

7. Hôm nay trên FB, một người bạn tôi có làm một trắc nghiệm nhỏ, đại loại là “Giây phút bạn cảm nhận tình yêu đối với bé lớn lao nhất là khi nào?” trong đó có các đáp án như lặng ngắm nhìn bé vui chơi và cảm nhận bé đang lớn từng ngày, bé choàng tay qua cổ bạn và thì thầm con yêu bố, hay giây phú bạn được nghe bé khóc chào đời. Tôi có chọn một đáp án trong đó, nhưng tôi cũng muốn bạn ấy biết rằng, tôi muốn bổ sung một đáp án nữa, là giây phút được đọc những dòng thơ Lưu Quang Vũ “nói với con cuối năm”, những dòng thơ như thế này:

cha lên làng sơ tán thăm con
hoa muộn nở trắng vườn
năm sắp hết
chợ quê rộn rịp
vàng hương nếp mới lá rong xanh

hai cha con ngồi trên bờ đê cao
sông chiều ngút khói
gió rạp mình cỏ dại
sau lưng hà-nội sương mù
thành phố vừa trải qua
những trận bom huỷ diệt
lòng cha giờ dập nát
những xác người máu loang
biết nói gì với con
ôi mắt trẻ đen tròn ngơ ngác thế
cuộc chiến tranh đã mấy chục năm trời
con mới gần ba tuổi
tia nắng sớm mong manh chùm lá mới
đêm của đời gió bão đã dài lâu

con bi bô với bàn ghế cỏ cây
tập gọi tên các sự vật trên đời
tập tin lời người lớn
cha làm sao nói được
những khổ đau lầm lạc đợi trên đường
cái ác đen sì trong mỗi quả bom
mang mặt đẹp nói cười khôn khéo

con hát lời ngọng nghịu
“vịt dắt tay gà hai đứa đi chơi”
áp trán vào gò má thơ ngây
cha bỗng thấy chẳng có gì đáng sợ
cha dậy con mến thương tất cả
rồi tự con sẽ biết căm thù
cha dậy con tin yêu từ ngọn cỏ
rồi mai sau con sẽ biết nghi ngờ
con sẽ trả lời những câu hỏi đời cha
con cũng sẽ đặt nhiều câu hỏi mới
lòng cha dẫu héo khô cành mận dại
nhựa âm thầm buốt trắng những chùm hoa

con ơi con hãy tha thứ cho cha
cha chẳng thể nào sống cùng mẹ được
đời cha nắng gắt
mẹ con cần suối mát của đồng vui
con khôn lớn trên đời
hãy yêu thương mẹ
và hãy hiểu cho cha

tết hoà bình đầu tiên
đất nước nghèo xơ xác
cha cũng chẳng đủ tiền
mua cho con áo đẹp
chiều bên sông gió rét
con lặng nhìn tít tắp bãi ngô xa
-       bên kia sông có gì hở cha?
-       bên kia sông có đường đất đỏ
     có ruộng mía trổ cờ trắng xoá
     những vườn đầy quả ngọt những đồng hoa
-       có bươm bướm không cha?
-       có, có rất nhiều bươm bướm
con thì thào trong hơi thở mạnh:
-       sông rộng thế làm sao sang được?
cha ôm con vào lòng, con bé bỏng của cha
-       bên kia sông nhiều bướm nhiều hoa
     rồi cha con ta sẽ tìm được con đò đi sang bên ấy./. (1972)

8. Hôm nay 17/4 là ngày sinh của Lưu Quang Vũ.



Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Tắt điện thì làm gì?

Cả nhà hưởng ứng Giờ Trái Đất nên tắt điện, thắp nến. Câu hỏi là tắt điện thì làm gì? Quả thật sau khi giảng giải cho hai bạn Tít & Tí về Giờ Trái Đất xong thì chả biết làm gì với cái ánh sáng leo lét của vài ngọn nến. Trong cái se lạnh cuối tháng Ba và trong cái không khí ấy, chợt nhớ ra Hoàng Phủ Ngọc Tường có lần đã tả cảnh nửa đêm thức dậy, khêu một ngọn đèn dầu, kéo cao cổ áo cho đỡ lạnh rồi lần giở sách của người xưa ra đọc. Thì bắt chước ông Hoàng, lôi sách của cụ Vương ra khoe dưới ánh nến vậy, như một kiểu “cảo thơm lần giở trước đèn”. Chỉ tiếc là cuốn mà nxb Trẻ vừa mới in xong là “Ăn cơm mới nói chuyện cũ” thì vẫn chưa ra đến Hà Nội, thành thử không được hưởng cái mùi giấy mới của cảo thơm.

VHS3

Thêm hình vài cuốn của cụ, chụp đã lâu:

VHS2

VHSen1

Câu hỏi đặt ra cho các bạn là: Hai hình trên được chụp ở đâu?

* * *
Cập nhật 4/4/2012: Hàng đã về. -:)

DUNG7685

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

Tiếng gọi lúc nửa đêm

Vào cái thời khắc lúc nửa đêm, khi mọi việc đã xong xuôi và trước mặt chỉ còn là giấc ngủ, là lúc ta thực sự được thảnh thơi. Trong cái thinh lặng của đêm khuya, cái tinh khiết của sự nghỉ ngơi, ta mới cảm nhận rõ cái mùi thơm của rượu Gin vừa được rót lên những viên đá còn bốc khói. Và trong khi đợi cho những bọt tăm của nước Tonic sủi hết lên mặt ly và vỡ vụn, ta tự cuốn một điếu thuốc, rồi quẹt một que diêm. Lúc khum tay che cho ngọn lửa, ta mới nhận ra một cơn gió vừa nhẹ nhàng len đến xào xạc trên tán cây. Đấy là lúc ta cảm thấy cái hơi ấm, cái mùi thơm của thuốc lá đang át đi mùi lưu huỳnh, mùi gỗ cháy, để hoà quyện với hương thơm của rượu Gin và miếng vỏ chanh đang vắt kiệt mình trong ly Gin&Tonic. Đấy là lúc ta vui.

* * *

Sáng đưa bạn Tít đi học, hai bố con vừa đi vừa nói chuyện. Đến giữa đường, bố buột miệng nói với bạn Tít:
- Bố quên một thứ Tít ạ. Đố Tít biết đấy là gì?
- Tít chịu thôi.
- Thuốc lá, bố trả lời.
- Thế trong cả buổi sáng bố không hút có được không?
- Được.
- Thế cả ngày bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả tháng bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả năm?
- Cũng được.
- Thế thì bố bỏ luôn đi, còn hút làm gì?
- À, thỉnh thoảng bố mới hút thôi, cho vui ấy mà.

Mà đúng thế, vui thì hút thôi, chứ cũng chẳng nghiện ngập gì.

* * *

Chợt nhớ ra đoạn Lâm Ngữ Đường bàn về thú hút thuốc, chép ra đây hầu bà con, nhất là cho những bà con nào đang định bỏ thuốc, hoặc đang bị "đối tác" yêu cầu bỏ thuốc:

"Thế giới ngày nay gồm hai hạng người: hạng hút thuốc và hạng không hút thuốc. Có nhiều người không hút thuốc mà thấy ai cũng mặc, không can thiệp vào, và nhiều bà vợ chịu cho chồng nằm trên giường mà hút thuốc; vợ chồng như vậy thì chắc chắn là có hạnh phúc trong hôn nhân. Nhưng cũng có một số người cho rằng không hút thuốc là có đạo đức, đáng để tự hào; họ không ngờ rằng họ không được hưởng một cái thú lớn nhất của nhân loại. Tôi sẵn sàng chịu nhận rằng hút thuốc là một nhược điểm về phương diện đạo đức, nhưng chúng ta phải đề phòng những người không có một nhược điểm nào; không thể hoàn toàn tín nhiệm ở họ được. Họ có thể lúc nào cũng điều độ, không mắc một lỗi lầm nào cả. Thói quen của họ rất đều đặn, họ hoạt động như một cái máy và lúc nào cũng để trí óc khống chế tâm tình. Tôi mến những người biết điều bao nhiêu thì ghét những người hoàn toàn hợp lý bấy nhiêu. Cho nên vô nhà nào không thấy tàn thuốc lá thì luôn luôn tôi kinh hoảng và khó chịu. Phòng tiếp khách sạch sẽ và ngăn nắp, nệm đặt đúng chỗ, ngay ngắn, chủ nhà thì nghiêm trang mà vô tình. Thấy vậy, tôi phải xốc áo lại cho ngay ngắn, tỏ vẻ lễ độ, chẳng được thư thái chút nào.

Những con người đàng hoàng, chính trực, vô tình cảm, tầm thường đó làm sao biết hưởng cái thú hút thuốc? Vì bọn hút thuốc chúng tôi thường bị người ta công kích về phương diện đạo đức, chứ không phải về phương diện nghệ thuật, cho nên trước hết tôi xin bênh vực đạo đức của chúng tôi đã, mà xét về đại thể tôi cho là cao hơn đạo đức hạng người không hút thuốc. Người nào ngậm ống điếu là người hợp ý tôi. Người đó có tài hơn, vui tính hơn, dễ cởi mở nỗi lòng hơn, đôi khi nói năng bặt thiệp hơn; và dù sao tôi cũng có cảm tưởng người đó mến tôi cũng như tôi mến người đó. Tôi hoàn toàn đồng ý với Thackeray khi ông viết: "Triết gia mà ngậm ống điếu thì minh trí hơn lên, còn kẻ ngu độn mà ngậm ống điếu thì câm cái miệng lại; ống điếu làm cho cuộc đàm thoại có cái phong cách trầm tư, thâm thuý, nhân từ và giản dị". Hơn nữa, một người ngậm ống điếu thì luôn luôn sung sướng mà không có đức nào lớn bằng hạnh phúc.

Muốn nhận đúng được cái giá trị nghệ thuật của thuốc lá thì phải tưởng tượng một người nghiện thuốc mà bỏ thuốc trong một thời gian ngắn. Người nghiện thuốc nào cũng đã có lần điên khùng muốn thoát ly được nàng Yên-thảo-tinh (Nicotine), nhưng sau khi chiến đấu với cái lương tâm tưởng tượng của mình rồi lại khôi phục được lý trí mà "đào điếu lên". Tôi cũng đã có lần ngưng hút trong ba tuần và sau thời kỳ đó lương tâm của tôi đã nhất định kéo tôi trở lại chánh đạo. Hễ còn chút nghị lực thì tôi thề là sẽ không mắc lại cái lỗi điên khùng đó nữa mà sẽ suốt đời sùng bái nàng Yên-thảo-tinh. Sự phát minh vô cùng hữu ích đó giúp cho tinh thần ta được sảng khoái, minh mẫn, mà lại cự tuyệt nó thì quả là một hành vi vô đạo đức. ...

Ta không thể viện một lý do xã hội, chính trị, luân lý hay sinh lý, hay tài chính nào để tự cấm ta đạt được cái tình trạng sảng khoái tinh thần đó, nó làm cho sức tưởng tượng của ta phong phú lên, năng lực sáng tác của ta sung mãn và kích động mạnh lên để có thể hưởng được hết cái thú đàm đạo với bạn thân ở bên lò sưởi, cái thú đọc một áng cổ văn hoặc để tìm nổi một tiếng diễn đúng cái ý của ta trong khi sáng tác. Những lúc đó, ai cũng tự nhiên thấy rằng chỉ đốt một điếu thuốc mới là một hành động thích hợp, chứ bỏ một cục kẹo cao su vào miệng thì là một trọng tội."

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

Kinh tế mà không phải kinh tế mà lại là kinh tế

Đấy là tôi đang nói đến tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG).

1. Tôi bắt đầu đọc TBKTSG từ năm 1995, ở thư viện trường Kinh tế. Tất nhiên là ở thư viện rồi, sinh viên hồi đó như tôi làm gì có tiền mà mua báo đọc. Báo là một thứ xa xỉ, và nhất là tội gì phải mua, khi mà nó luôn sẵn sàng cho ta đọc trong cái thư viện chật chội của trường. Thời đó, tôi rất quý cái mục nho nhỏ ở góc trên bên phải mục lục của tờ báo: danh mục các cá nhân, doanh nghiệp tặng tờ tạp chí này cho các trường, và tôi rất vui vì cái danh sách này ngày càng dài và số lượng ngày càng tăng lên.

2. Tôi đọc ở đó liên tục 4 năm thì ra trường, đi làm, và tôi bắt đầu mua TBKTSG cho riêng mình. Chồng TBKTSG luôn luôn được chất đầy trong góc phòng, nhưng qua vài lần chuyển nhà, nó cứ hao hụt dần. Đến năm 2003 định cư được ở một chỗ, chồng báo này ổn định được một thời gian thì đến năm 2005, một "tai nạn" đã xảy ra: toàn bộ tủ sách của tôi bị mối xông. Cái ngày đem toàn bộ đống sách tích cóp được, chồng báo TBKTSG và Bộ sưu tập Tạp chí Nhà đẹp cùng cái giá sách bị mối xông cho người đồng nát, là ngày đầu tiên tôi hiểu ra ý nghĩa của thành ngữ "tiếc đứt ruột". Cái cảm giác bần thần, đi ra đi vào, vứt rồi lại không vứt, bây giờ ngồi viết lại vẫn thấy nhớ. Cuốn sách duy nhất còn giữ lại được sau tai nạn ấy là Thế giới của Sophie, bản dịch lần đầu. Tôi cố giữ lại vì nó còn nguyên hình hài là một cuốn sách, dẫu rằng khi mở ra nó vẫn như vừa trải qua một cơn đậu mùa.

3. Nghĩa là từ sau khi ra trường và đi làm, tôi đã cố duy trì một cái thói quen là cứ mỗi tối thứ Năm, thì lại vòng qua một sạp báo, rồi nhặt về một tờ TBKTSG. Cái thú vị là, rất thường khi, vì đi mua báo như vậy mà tôi có dịp gặp lại một người bạn học cùng đại học, có cùng sở thích đọc TBKTSG và cùng mua ở một sạp báo quen. Cái nhịp điệu đó diễn ra được vài năm, thì công việc, rồi gia đình cuốn mỗi đứa đi một nơi, cả hai vẫn đọc TBKTSG nhưng không thể mua báo ở cùng một nơi được nữa. Nhưng thỉnh thoảng có dịp gặp gỡ, có khi thứ mà hai đứa cùng mang theo vào điểm hẹn, lại chính là tờ TBKTSG.

4. Là một tờ thời báo kinh tế, nó đương nhiên phải viết về kinh tế rồi. Về chất lượng chuyên môn của tờ báo, tôi chẳng thể nói ra lời khen ngợi, vì tôi e rằng tôi không đủ tư cách. Chỉ biết rằng, nhờ đọc nó trong một thời gian dài, mà tôi luôn nắm được cái "nhịp đập", cái "hơi thở" và không khí làm ăn của giới doanh nhân. Sau này tôi cũng tự thấy mình ra quyết định một cách rất tự nhiên, thì tôi đồ rằng, cái góp phần làm nên cái sự "tự nhiên" đó, phần lớn là xuất phát từ những gì tôi đọc và cảm nhận được từ tờ thời báo này, hơn là những gì mà các giáo trình kinh tế đã trình bày.

5. Viết lòng vòng thế, nhưng cái mà tôi muốn nhắc đến tờ báo này, là những thứ "phi kinh tế" mà tôi học được từ nó.

Tôi có thể không còn nhớ những vấn đề kinh tế mà tờ báo này đã đề cập, nhưng những cái tên làm nên tờ báo thì tôi còn nhớ mãi.

Nhờ có TBKTSG mà tôi biết đến GS Trần Hữu Dũng, người mà giờ đây tôi viếng thăm trang web của ông mỗi ngày, ngày nào không đọc thì cảm thấy như thiếu một cái gì đó.

Qua TBKTSG, và cả GS Dũng nữa, tôi lại được biết đến chị Nguyễn Ngọc Tư. Thật kỳ lạ khi ta biết đến một nhà văn, qua một tờ thời báo về kinh tế, chẳng phải vì sách của chị bán chạy như một hiện tượng kinh tế. Nếu không có những bài viết của chính chị Tư trên tờ này, và sau đó là sự giới thiệu của GS Dũng, thì có lẽ phải đến thời gian này, tôi mới có cơ may biết đến chị, vì quả thật đã có một thời gian dài mải mê vào công việc, tôi đã lãng quên thời sự văn học.

Một nhà văn, nhà nghiên cứu, phê bình khác mà tôi biết được thông qua tờ này là Vương Trí Nhàn. Và kể từ đấy tôi đọc Vương Trí Nhàn nhiều hơn, thấy cũng rất hợp với cái "tạng" đọc của mình.

Nhờ đọc TBKTSG, tôi biết Luật sư Nguyễn Ngọc Bích. Nhờ có ông, những vấn đề về Luật kinh tế vốn khô khan, rắc rối và "xa lạ" với tư duy kinh tế XHCN, bỗng trở nên rõ ràng, duyên dáng, một cách "tường minh" nói theo thuật ngữ của ngành Luật. Và tôi phục cái tài của ông là ở chỗ ấy, hay nói khác đi, việc giỏi "diễn giải" chính là cái "tài ba của Luật sư" như nhan đề một cuốn sách đã xuất bản của ông. Sau này tôi còn mua nhiều sách của ông nữa: Khơi dòng chảy cho dòng vốn, Vốn và quản lý trong Công ty cổ phần, Công ty-Vốn, quản lý và tranh chấp,... cuốn nào cũng hay và đọc rất lý thú.

Cũng là từ TBKTSG mà vốn tiếng Anh của tôi trở nên khá hơn hẳn, đặc biệt nhờ "công" của hai người: anh Nguyễn Vạn Phú và anh Phạm Vũ Lửa Hạ. Chỉ tiếc là khi hai anh này ra sách thì thời kỳ đó, tôi cũng đang xa rời cái sự đọc nên không cập nhật và mua được. Anh NVP thì tôi vẫn thường dõi theo trên blog, còn anh Lửa Hạ thì bẵng đi một thời gian dài, mãi mấy hôm trước mới thấy gặp lại bài viết của anh trên trang Viet-studies, và thấy mừng là anh đã viết blog. Thế là mình lại có thêm một chỗ để đi ra-đi vô rồi. Cũng nhờ có bài viết của anh Lửa Hạ trên TBKTSG mà tôi biết đến một con người khác: Peter Drucker, người mà sau này tôi đã say mê đọc các tác phẩm của ông.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì cũng chính là nhờ TBKTSG mà tôi biết anh Nguyễn Tường Bách. Khởi đi từ những bài viết mà anh cộng tác với tờ này, tôi đã có trong tay gần như là đủ các cuốn sách mà anh đã dịch và viết: Con đường mây trắng, Đạo của Vật lý, Thiền qua nghệ thuật bắn cung, Mùi hương trầm, Đêm qua sân trước một nhành mai,...

Một tác giả khác mà tôi rất ngưỡng mộ, là anh Võ Tá Hân. Đến giờ tôi vẫn nhớ cái cảm giác của mình khi đọc anh so sánh trí óc của một người bận rộn với một con khỉ nhảy nhót suốt ngày, và vì vậy nên mệt, và anh đưa ra một phương cách cho đỡ mệt: Thiền. Tập sách mỏng của anh Cánh hoa trước gió  cũng là một trong những cuốn bị mất trong cái nạn mối xông nói trên. Sau này tôi còn được biết, ngoài việc là một doanh nhân tài ba, anh còn nhờ vào uy tín của mình mà vận động và "xin" được rất nhiều sách cho các trường đại học Việt Nam. Bên cạnh đó, anh cũng còn là một cây guitar cừ khôi.

Nhắc đến guitar, tôi lại nhớ đến bộ ba anh Tâm-Trung-Thông, ba người sáng lập ra TTT Corporation, những người cũng thường được nhắc đến trên TBKTSG, không chỉ với tư cách những doanh nhân thành công, mà còn với tư cách là những nhạc công/ca sĩ "kỳ cựu".

Khi viết những dòng này, tôi cũng nhớ đến anh Giản Tư Trung, người sáng lập ra PACE, một tổ hợp giáo dục mà tôi biết đến nhờ cái ô quảng cáo nhỏ xuất hiện thường xuyên dưới chân trang báo TBKTSG. Mặc dù từ hồi ra trường, tôi chưa hề học thêm bất kỳ một course nào về quản trị, nhưng nhìn cái cách mà PACE tổ chức các khoá học, thỉnh thoảng cũng muốn rút ví mà tham dự vài khoá. Anh Trung cũng là người sáng lập Dự án SáchHay.com.

Tôi cũng nhớ anh Trần Ngọc Châu nữa, người mà sau này những bài viết của anh trên TBKTSG cũng được tập hợp lại thành cuốn Vị đắng những chuyến đi xa. Ngoài cuốn này, tôi cũng sở hữu thêm một cuốn khác là tiểu thuyết ngắn của anh: Con chim e thẹn. Tiểu thuyết không phải là xuất sắc, nhưng cái thú có đủ những gì mà một tác giả yêu thích viết ra đã làm tôi nhặt cuốn sách này ngay khi nhìn thấy. Sau này khi anh đã nghỉ ở TBKTSG và chuyển sang phụ trách kênh truyền hình tài chính FBNC, tôi đã rất vui và nghĩ rằng BHD quả là đã có một lựa chọn rất thông minh.

Còn ai nữa nhỉ, à, bác sỹ Lương Lễ Hoàng. Ông đã hạ gục tôi ngay từ những bài viết đầu tiên, tất nhiên không phải về kinh tế mà là về bệnh, trước hết là bệnh của giới làm ăn. Tuyển tập Thuốc đắng Dã tật của vị bác sỹ tài hoa này tôi đã mua và tặng nhiều người.

6. Cuối cùng thì nhờ đọc những con người trên, và nhiều người khác nữa mà tôi không nhớ hết, tôi nhận ra một điều: cung cách làm ăn của mỗi người phản chiếu chính cái cung cách sống của chính người đó, và điều này ảnh hưởng đến chính văn hoá của chính doanh nghiệp mà người đó điều hành. Từ đó tôi cũng tin rằng, nếu một người sống tốt/tử tế thì khả năng cái sản phẩm anh ta làm ra cũng tử tế như thế là rất cao.

7. Vì năng lực của mỗi người là có hạn, khi tôi quan tâm tới những vấn đề phi kinh tế, thì hẳn là cái con người kinh tế trong tôi cũng giảm đi rất nhiều, tất nhiên chưa đến mức là "sự tuyệt chủng của con người kinh tế" như nhan đề của một cuốn sách nào đó. Nhưng tôi chấp nhận sự đánh đổi đó, vì chỉ khi đó, tôi mới được sống chính là mình. Nếu chỉ là con người kinh tế đơn thuần, tôi sẽ không còn là tôi nữa.

8. Nói vậy nhưng cũng lâu rồi tôi không còn mua và đọc TBKTSG nữa. Vì bận rộn không đâu. Kể ra thì đặt báo năm rồi có người đưa tận nơi cũng được, nhưng cái con người gàn dở trong tôi cứ nhất quyết cho rằng tờ báo này phải tự đi mua để đọc thì mới hay. Mà như thế thì lại không có thời gian. Lúc đầu thì tôi còn dựa dẫm vào phiên bản online của tờ này, nhưng đến khoảng năm 2007 thì tôi thôi hẳn. Thôi hẳn cũng chỉ vì tôi cảm thấy, với tờ thời báo này, phải đọc báo in mới thú. Tôi chỉ còn mua tờ TBKTSG số Tết, vừa để có cái đọc Tết, vừa là để sưu tầm, như là một tác phẩm độc lập tách rời khỏi những số báo thường.

Rời bỏ tờ thời báo này trong một thời gian dài, tôi cứ có cái cảm giác là mình đã bị lạc hậu đi, rằng mình đã tự tách mình ra khỏi dòng chảy của giới làm ăn, những xu hướng quản trị, những vấn đề liên tục nảy sinh mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Một kiểu "quẩn quanh trong tổ".

9. Hôm nay là thứ Năm, là ngày mà như thường lệ, tờ TBKTSG có mặt trên các sạp báo ở Hà Nội. Có lẽ tôi nên đi đến một trong những sạp báo như thế, để bắt đầu lại cái việc mua và đọc tờ báo này, như một thứ "nghi lễ" hàng tuần.

Hôm nay là 22/9, cũng là ngày mà người bạn có cùng sở thích đọc TBKTSG đã nhắc ở trên, cho ra mắt một thương hiệu mới: CMAC/Investment and Executive Education. Đây là thương hiệu thứ hai của bạn sau một thương hiệu AVM đã rất thành công với Diễn đàn M&A. Không biết, trong ngày vui khai trương này, bạn có còn nhớ và còn thời gian để mua một tờ TBKTSG hay không?

* Gần như tất cả các "anh" trong bài này, trừ anh Lửa Hạ, toàn là đáng tuổi cha, chú mình, lẽ ra phải gọi là chú thì mới phải phép, nhưng xin được gọi là "anh" cho tiện.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Muốn viết

photo.JPG

1. Trong ảnh là một cuốn sách tôi đang đọc: Investment Biker. Cuốn này mua trong chuyến đi Siem Reap hồi đầu năm ngoái, rồi bẵng đi không sờ đến. Giờ lôi ra đọc mới thấy tiếc vì đã không đọc nó sớm hơn: một cuốn sách thực sự tạo cảm hứng, ít nhất là cho riêng tôi. Jim Rogers, một nhà đầu tư có hạng (như sau này tìm hiểu mới biết, ông là người cùng George Soros sáng lập ra Quỹ Quantum lừng danh), đã "nghỉ hưu" ở tuổi 37 để thực hiện một chuyến du hành vòng quanh thế giới bằng xe máy, để được đến tận nơi và quan sát về các nền kinh tế khác nhau.   Tôi rất muốn đọc nó thật nhanh để có thể viết vài dòng cảm nhận và suy nghĩ về cuốn sách, nhưng có cái gì đó trong tôi cứ làm tôi đọc nó thật chậm, như thể nếu kết thúc nó quá sớm, cái cảm hứng kia cũng sẽ biến mất.

2. Về một cái mái hiên cụ thể, tôi đã có dịp viết ở đây. Nhưng những ngày này, tôi lại muốn viết về mái hiên nói chung, như là một vùng đệm cho cái sự giao hoà với thế giới bên ngoài của con người.

3. Một cuốn khác tôi cũng đang đọc dở là Sống Đẹp của Lâm Ngữ Đường. Vừa đọc vừa nghĩ mình đọc cuốn này muộn quá, một cuốn đúng như cụ Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét là gợi nhiều "suy nghĩ". Đọc cuốn này mới biết ngày xưa Thánh Thán có viết "Ba mươi ba lúc vui của Kim Thánh Thán", cũng muốn bắt chước cụ để viết "ba mươi ba lúc vui" của chính mình.

4. Không biết từ bao giờ tôi bị nhiễm cái tật là đọc nhiều cuốn sách trong cùng một khoảng thời gian, trừ những cuốn quá mỏng hoặc quá cuốn hút đến mức đọc một mạch không nghỉ, hoặc tuy cuốn đó dầy nhưng được đọc trong một kỳ nghỉ dài (Nghỉ Tết chẳng hạn). Cái sự lề mề đó ở tôi quả là xấu, nhưng bù lại, tôi lại thấy lợi ở hai điểm. Một là dần dần, tôi trở nên mẫn cảm với việc lựa chọn cuốn này thì "có thể" phù hợp nhất để đọc vào thời điểm nào trong không gian nào, và để khi đọc xong kiểm nghiệm xem điều đó có đúng không. Cho nên cái thú không phải chỉ là ở việc đọc sách và ở thời điểm đọc sách, mà là những gì diễn ra sau đó nữa, như thể cái "hậu vị" của thứ chè mạn Thái Nguyên hảo hạng. Và hai là, có những khoảng thời gian ta được trải nghiệm rất nhiều cảm xúc đẹp, như hai cuốn đã dẫn ở trên là một ví dụ: một cuốn gợi nhiều "suy nghĩ", cuốn còn lại, gợi nhiều "cảm hứng". Thế thì còn gì bằng?

Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011

Một định nghĩa về sự "Dã man"

Đây là Lời tựa cho một cuốn sách có lẽ sẽ không được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Nhưng bỏ qua nội dung chính của cuốn sách, bản thân Lời tựa này cũng là một "tác phẩm" độc lập và đáng đọc.

Nguyên bản tiếng Pháp: Jean-Claude Guillebaud

Người dịch: Hoàng Hà.

Lời kết mỉa mai của cuốn sách thật hay này chính là chìa khoá. Ban đầu tôi cũng tự hỏi không hiểu cái cảm giác về một sự rõ ràng, tươi mát, “mới mẻ” hoàn toàn khi đọc cuốn sách tìm hiểu thực tế Việt Nam này ở đâu ra. Câu trả lời hoá ra lại đơn giản: đó là do các tác giả đã hoàn toàn bỏ qua các định kiến, mà suy cho cùng các định kiến ấy là do tính chuộng ngoại lai mà ra. Chuộng ngoại lai hiểu cho đúng cũng là một dạng dối trá. Bao giờ cũng dối trá. Chính nó ve vãn và làm khách du lịch lạc lối.
     Chúng ta hãy cùng nhớ tới những lời quảng cáo năm này qua năm khác mời gọi ta lên đường. Phần lớn những lời quảng cáo này đều có một tính hai mặt đáng ngờ. Đó chính là nghịch lý căn bản của mỗi chuyến đi, mỗi khám phá (rởm). Có thể tóm lại trong vài từ. Thứ mà chúng ta đi tận chân trời góc bể để kiếm tìm, thứ “ngoại lai” rởm ấy chẳng qua cũng chỉ là “đồ sơn” mà thôi. Cái cứ tưởng là “nơi khác” ấy khiến chúng ta bỏ tiền ra mua lời hứa hẹn trong các ca ta lô của các hãng lữ hành chuyên nghiệp, nó là một trò dối trá thô thiển nhằm đáp ứng một nhu cầu mà ta có thể tạm coi là chủ nghĩa tiêu thụ.
     Cái chúng ta tìm kiếm một cách bản năng khi rời khỏi quê hương, khỏi thường nhật, khỏi môi trường quen thuộc, đó không chỉ là vẻ đẹp đặc thù của phong cảnh hay công trình. Chúng ta còn hy vọng sẽ có thêm chút gì thật là khác thường, một sự lạ nước lạ cái hoàn toàn, một sự “khác biệt” càng lớn càng tốt. Đi thăm chợ ả rập, phố Ấn độ hay đường mòn châu Phi, chúng ta muốn được sửng sốt trước những người đàn ông và đàn bà có cách sống khác, truyền thống khác và thế giới quan khác. Khác tuyệt đối.
     Tất cả những sản phẩm báo chí nói về lữ hành chẳng qua cũng chỉ nhằm tụng ca một cách ít nhiều khéo léo về sự “khác biệt” này. Phụ nữ cao cổ ở Myanmar, thầy tu khổ hạnh ở Bénarès, người Inuit ở Groenland, nông dân còng lưng dưới ruộng ở Việt Nam: đó là sự lạ mà các hãng lữ hành mời chúng ta tận hưởng.
     Vậy mà, cách nhìn thế giới như vậy là ngược lại với sự thật. Trước hết, cái mà chúng ta cho là đẹp như tranh thường là do tác động của nghèo đói. Cái mà chúng ta cho là thú vị (những đám đông chân trần lê bước ở châu Phi, những thành phố lúc nhúc loè loẹt, những bà nông dân còng lưng gánh củi, .v.v.), lại chính là nỗi khốn cùng của người trong cuộc. Trong cái cách mà khách du lịch lượn quanh các chợ nhòm ngó, máy ảnh nháy lia lịa, có chút gì đó hơi dã man.
     Sau đó, phải thấy là cả thế giới đã thay đổi, nhất thể hoá, đô thị hoá và phát triển. Những cô bé chăn dê ở châu Phi ngày nay nghe nhạc techno bằng máy kỹ thuật số; sư sãi ở Việt Nam đi taxi và học vi tính; các dân tộc trên thế giới cũng, giống như chúng ta, muốn tham gia vào tất cả những gì gọi là toàn cầu và sự đơn điệu của nó. Sự tầm thường hoá hành tinh đương nhiên làm chúng ta không thoả được cơn khát ngoại lai. Nó làm ta bực bội. Nên ta cứ có xu hướng muốn giữ lại sự hư cấu về cái đẹp đẽ đã qua, nhốt người dân các xứ sở xa xôi trong nhà tù của sự khác biệt. Để đạt được mục đích ấy, ta sẽ lại sáng tạo ra một thế giới tưởng tượng, còn giả hơn cả đề co sân khấu; ta sẽ quay phim như thể đó là một vườn bách thú màu sắc khổng lồ. Ta sẽ đòi các dân tộc phải giống y hệt ý ta.
     Tôi vẫn còn nhớ một câu chuyện được nghe ở châu Đại dương. Ở quốc đảo Fidji, chính phủ năm nào cũng yêu cầu nhân dân không mặc quần áo kiểu phương Tây trong mùa du lịch để khỏi làm khách thất vọng. Nói thế là đủ hiểu.
     Thực ra nước nào cũng có nét ngoại lai đặc thù của mình và cả một bộ sưu tập các hình ảnh mà người ta thường quen gán cho nơi ấy. Đối với trường hợp Việt Nam, các hình ảnh định sẵn ấy trong đầu óc chúng ta có nhiều tầng nghĩa. Tất nhiên trong đó có những hình ảnh về vẻ đẹp rực rỡ của phong cảnh. Ngay cuối thế kỷ XIX, những người đầu tiên phát hiện ra Việt Nam đã mê đắm kể về những ruộng lúa bát ngát bao quanh là những rặng núi ẩn hiện trong mây. Họ tả về những ruộng lúa sắp xếp khéo léo như những tổ ong, phân cách đất và nước từng xăng ti mét một, tới tận chân trời; những ô bờ đê bằng đất sét bao lấy những người đàn bà oằn vai dưới sức nặng của chiếc đòn gánh; những động tác và nhịp điệu ấy – những chiếc gầu tưới mà hai người đàn ông đứng đối mặt cùng nhịp nhàng kéo nước, những con trâu bì bõm trong nước ngập tới nửa ống chân.
     Bổ sung vào những tụng ca dai dẳng về vẻ đẹp địa lý – quả thật là không thể chối cãi -, qua thời gian còn có thêm những kỷ niệm về thời thực dân và các cuộc chiến tranh liên tiếp diễn ra sau đó. Lính Pháp, những cựu binh Đông Dương, đã góp phần lớn vào việc làm cho đất nước này có một sự “mê hoặc” đặc biệt. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ, vượt qua nỗi đau thể xác và tinh thần, đã phát triển, và làm lan truyền, một nỗi nhớ Việt Nam lạ lùng và da diết. Thậm chí họ còn chế ra từ “namstalgie” để chỉ nỗi nhớ này. Qua bao năm lắng lại, tất cả những hình ảnh này cuối cùng đã tạo ra một Việt Nam tưởng tượng, một Việt Nam ảo trong đó đời sống của nhân dân ra sao, xã hội (thực) biến chuyển thế nào ít ai quan tâm. Phần lớn sách báo và sách hướng dẫn du lịch ở các nước phương Tây đều nói tới nước Việt Nam tưởng tượng này.
     Trong khi đó, nước Việt Nam thật lại rất ít được biết đến – giống như phía kia của mặt trăng. Philippe Papin và Laurent Passicousset sẽ giúp chúng ta khám phá “mặt khuất” này. Để làm được như vậy họ có một thái độ bình tĩnh – thậm chí hài hước nhẹ nhàng – mà chỉ những người hiểu tường tận đất nước và ngôn ngữ này mới có được, mà những người như vậy đâu có nhiều.
     Với tất cả những ai, giống như người viết những dòng này, yêu mến Việt Nam từ lâu nay, với những ai tưởng rằng mình có chút hiểu biết về đất nước này, có được cuốn sách này quả là duyên trời định, tuy nghe có vẻ nghịch lý. Khách quan nhưng uyên bác, xây dựng nhưng phê phán, những trang sách đưa ta thẳng đến thực tế, một thực tế trần trụi nhưng đáng say mê của một đất nước.
     Jean-Claude Guillebaud

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011

K. V.


Nhà văn kiệt xuất Albert Murray, sử gia nhạc jazz và là một trong những người bạn của tôi, bảo tôi rằng suốt thời kỳ nô lệ ở đất nước này, tỷ lệ tự sát trên đầu người trong số các chủ nô cao hơn nhiều so với tỷ lệ tự sát trong số các nô lệ.

Murray nói có lẽ là do những người nô lệ có cách đối phó với chứng trầm uất, cách mà người chủ da trắng của họ không có: họ có thể đuổi Lão Già Tự Sát đi bằng cách chơi và hát nhạc Blues. Ông nói một điều nữa mà tôi nghe cũng thấy đúng: nhạc Blues không thể đuổi hẳn u uất ra khỏi nhà, nhưng có thể dồn nó vào góc tường của bất kỳ căn phòng nào có tiếng nhạc Blues. Vậy nên xin hãy nhớ điều đó.

**

Bằng chứng duy nhất ông cần để chứng tỏ sự tồn tại của những thượng đế là âm nhạc.

Trích K. V, không phải Kurt Cobain.-:)

Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011

Sách mới chả sex

Tôi đọc sách đơn giản vì nó đem lại nhiều niềm vui, hay ít nhất cũng vì nó khỏa lấp được những nỗi buồn. Đọc lâu rồi thành thói quen, đến mức tôi cũng chẳng bao giờ để ý hay tự hỏi, mình đọc sách để làm gì nhỉ?

Giờ ngồi nghĩ lại tôi thấy mình đọc sách chẳng phải để đi tìm những triết lý cao siêu, những lời răn dạy, cũng chẳng phải là một kiểu "khám phá thế giới". Xét cho cùng những điều tôi thu hoạch được từ những cuốn sách thường là nhỏ bé, vụn vặt. Chẳng hạn khi còn nhỏ, những thứ đọng lại trong tôi sau khi đọc Không gia đình là những con phố sương mù bẩn lép nhép của thành London, rằng thì ở nước Anh người ta không chặt cành cây, món sữa bò có vị thơm hoa cam ở một vùng nông thôn nước Pháp, hay là món khoai tây luộc ăn kèm với thịt bò nướng,... Hoặc như sau này khi đã lớn, đọc Murakami chẳng hạn, tôi thấy vui khi bắt gặp trong những trang sách của ông bản nhạc mà tôi yêu thích, và sau đó nữa, thích thú hơn khi nhặt được ngoài hàng băng đĩa một CD do chính Murakami làm Nhà sản xuất (*). Hoặc như khi đọc Hành trình ngày thơ ấu chẳng hạn, cái hình ảnh ấn tượng nhất là cái bóng đèn thủy tinh lấm tấm bọt, được rửa sạch bong trong nhà cậu bé Cọn. Nói chung là toàn những thứ linh tinh lang tang như vậy, chẳng đáng kể gì.

Thế nhưng nó vui, và tôi biết tất cả những điều nhỏ bé li ti đó đã vô tình góp phần làm nên con người tôi như hôm nay. Quá trình đó diễn ra một cách vô thức, và tôi cũng đọc một cách vô thức như vậy, không cố gắng, không lên gân. Tôi để việc đọc và cảm nhận diễn ra một cách tự nhiên, như ăn uống hít thở hàng ngày vậy. Và để mặc cho trí tưởng tượng của mình đi theo từng con chữ, lang thang, vô định, không chủ đích.

Vậy nên trí tưởng tượng bé mọn của tôi chẳng thể hiểu được, tại sao và làm thế nào, việc đọc tiểu thuyết lại có thể "gần với ái ân", như là bác Nhật Chiêu đã nhận định như vậy, trong bài điểm sách đăng trên SGTT hôm qua. Hay là bác Nhật Chiêu đã quá thấm và ngộ tinh thần Thiền của nước Nhật nhỉ?

Giờ thì ta đã có thể yên tâm "ăn chay", miễn là trong nhà có nhiều tiểu thuyết. He he.

Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

Trên sa mạc và trong rừng thẳm

1. Tôi đọc Trên sa mạc và trong rừng thẳm đâu đó năm mười tuổi. Hai mươi nhăm năm đã đi qua, tôi chẳng còn nhớ nhiều chi tiết, nhưng có lẽ truyện đó cùng với Đảo Hoang của Tô Hoài đã gợi cho tôi sự ham thích với những khu rừng và ước muốn được lên đường. Mặc dù không nhớ nhiều, nhưng có hai chi tiết của Trên sa mạc và Trong rừng thẳm tôi vẫn còn nhớ đến bây giờ. Một là truyện đó được viết xong vào năm 1911, tôi nhớ vậy là vì đã đánh đồng năm đó với năm... Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước. -:) Hai là các nhân vật trong truyện đã phải dùng đến một loại thuốc có cái tên rất lạ với đứa trẻ là tôi thời ấy: ký-ninh, loại thuốc chủ trị sốt rét, và ở thời điểm diễn ra câu chuyện, nó không chỉ chữa sốt rét mà còn là loại thuốc chữa bách bệnh. Nó là một loại dược phẩm khan hiếm nhưng là thứ phải có trong những cuộc thám hiểm rừng rậm dài ngày. Tôi nhớ được có lẽ do liên hệ với căn bệnh sốt rét mà bố tôi vẫn kể sau khi ông từ chiến trường Tây Nguyên trở về. Rất lâu sau bối cảnh của câu truyện trên, những người lính như bố tôi vẫn phải dựa vào ký-ninh để chấm dứt những cơn sốt rét của mình.

2. Khi tôi viết những dòng này thì đã hết nửa năm 2011. Đã một trăm năm kể từ khi Trên sa mạc và Trong rừng thẳm được viết ra. Và vẫn có một thằng là tôi dùng ký-ninh mỗi ngày. Tôi biết điều đó là nhờ vào dòng chữ "Có chứa Quinine" trên vỏ lon Tonic tôi dùng để đổ vào ly Gin mỗi tối. Uống đều. Chẳng phải là để chữa sốt rét, mà là những cơn sốt triền miên của mệt mỏi, dằn vặt, buồn bã. Những nỗi buồn phát sốt. Nếu là một cơn sốt vì tình yêu một thời, như nhóm Bee Gees đã thổ lộ qua Saturday Night Fever, thì lại là một nhẽ. Đằng này lại là phát sốt vì những bức bối ngột ngạt thường ngày. Tôi cũng như đang lang thang trên một sa mạc, không chết khát vì thiếu nước mà chết vì thiếu những  ý tưởng mới. Mọi việc thì rối mù và tôi cũng như đang lạc trong một khu rừng rậm, thăm thẳm sâu mà chưa tìm ra lối thoát.

3. Hiện thời thì tôi chỉ biết uống Quinine đều đặn mỗi ngày, để ngăn ngừa những cơn sốt. Nhưng uống nhiều mới biết, cái thứ Dry London Gin cũng gây khát nước không khác gì đi trên sa mạc, và làm cho đầu óc quay mòng mòng như lạc trong rừng thẳm thật.

Giữa mớ bòng bong ấy, vẫn bùng lên câu hỏi, khi nào thì được uống Gin & Tonic để chữa trị cho những Saturday Night Fever, và chỉ cho những cơn- sốt-đêm-thứ-Bảy mà thôi?

4. Những lúc như thế này lại thèm được nghe Eric Clapton rên rỉ cùng ngón guitar điêu luyện điệu blues kinh điển: Nobody Knows When You Are Down and Out.

Once I lived the life of a millionaire 
Spent all my money, I just did not care 
Took all my friends out for a good time 
Bought bootleg whiskey, champagne and wine 

Then I began to fall so low 
Lost all my good friends, I did not have nowhere to go 
I get my hands on a dollar again 
I'm gonna hang on to it till that eagle grins 

'Cause no, no, nobody knows you 
When you're down and out 
In your pocket, not one penny 
And as for friends, you don't have any 

When you finally get back up on your feet again 
Everybody wants to be your old long-lost friend 
Said it's mighty strange, without a doubt 
Nobody knows you when you're down and out.

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011

Nhã Nam

Vào xem sách giảm giá của Nhã Nam trên trang tiki.vn, nhặt ra đây những cuốn đã có. Thứ tự theo dàn trang của tiki.vn.

1. Nếu một đêm đông có người lữ khách
2. Một tiểu thuyết Pháp
3. Thơ Hoàng Cầm
4. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885)
5. Trò chuyện trong quán La Catedral
6. Xuân Quỳnh, Không bao giờ là cuối
8. Nhóc Nicolas, trọn bộ
9. Những ngã tư và những cột đèn
10. Henderson, Ông hoàng mưa
11. Đầu óc người Ý
12. Con lươn chép miệng
13. Lịch sử Hà Nội
14. Cedric, trọn bộ
15. Thị Dân
16. Bốn mùa, Trời và Đất
17. Cà phê Mưa
18. Người chăn kiến
19. Thơ Nguyễn Duy
20. Istanbul
21. Vô tri
22. Chúa ruồi
23. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
24. Haroun và Biển truyện
25. Viết
26. Ngàn dặm không mây
27. Biển và chim bói cá
28. Chỉ tại con chích choè
29. Lại chơi với lửa
30. Vu khống
31. Tình yêu kéo dài ba năm
32. Ba ơi, mình đi đâu?
33. Moon Palace
34. Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình
35. Hội hè miên man
36. Vũ trụ trong một nguyên tử
37. Thế giới là một cuốn sách mở
38. Shiddharta
39. Nam tước trên cây
40. Những bài Dã sử Việt
41. Ăn, Cầu nguyện, Yêu (cái này vợ mua, -:))
42. Những mối tình nực cười
43. Tôi nói gì khi nói về chạy bộ
44. Biên niên ký chim vặn dây cót
42. Trên đường
43. Dưới bóng những cô gái tuổi hoa
44. Kalson trên mái nhà
45. Tobie Lolness, trọn bộ
46. Giết con chim nhại
47. Du hành cùng Herodotus
48. Bắt trẻ đồng xanh
49. Quê hương tan rã
50. Gấu Pooh xinh xắn
51. Lũ trẻ nhà Penderwicks
51. Momo
52. Con người hoan lạc
53. Cuộc đời của Pi
54. Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, -:)

Chỉ còn một số cuốn muốn mua:
1. Tuyết
2. Khuyến học
3. Cuộc sống ở trước mặt
4. Ở lưng chừng thời gian
5. Biếm hoạ Việt Nam (Lý Trực Dũng)

Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011

Một lời khuyên "lầm lạc"

Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hy sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngành ngọn chứ không phải là chối bỏ... Không phải là ta khuyên con trọng mạng sống hơn cả nhưng mong con hãy cảnh giác với tất cả những sự thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy.

Trích NBCT.

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011

Trên đường

Tôi đọc nốt chương cuối cùng của cuốn Trên đường sau khi đã đánh một giấc ngủ trưa ngắn. Trước đó, tôi đã làm vài chai bia và đã ngà ngà. Và cơn buồn ngủ ập đến trong cái nắng ban trưa và những cơn gió mát lành.

Khi tôi buông cuốn sách và nhìn lên, trước mặt là cả một tấm màn dịu êm kết bằng những tán phi lao xanh sẫm. Trên cao nữa, là bầu trời xanh ngắt vời vợi. Mặt trời chếch đâu đó phía trên ngọn phi lao, nắng làm cho những chiếc lá kim thêm lấp lánh.

Ngoài kia, chỉ cách nơi tôi nằm khoảng 50 mét, là biển. Vịnh Bái Tử Long. Mặt nước êm như mặt hồ, sóng chỉ hơi gợn lăn tăn. Thoạt tiên nước hơi đục và có màu nâu đất, rồi đến một lớp nước màu xanh nhạt, rồi đậm dần về phía xa, nơi những hòn đảo nhỏ, những vảy rồng theo truyền thuyết đang ngự trị. Cả những hòn đảo cũng xanh. Và qua những  hòn đảo, lại là bầu trời.

Dư âm của những gì tôi đọc được trong Trên đường lẫn vào những tia nắng mặn mòi vùng biển, tiếng người lao xao, và tiếng gió thổi qua những rặng phi lao vi vút.

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

MeNuK: Con người Tự nhiên Văn hoá

Tranh thủ lướt web đọc được nhiều bài hay.

#1. Là của Bùi Văn Nam Sơn về Con người Tự nhiên Văn hoá. Không thể viết thêm được bình luận gì vì bản thân bài viết đã quá hoàn chỉnh.

#2. Là một chuyên đề về nhạc Blues trên TT&VH Cuối tuần. Lâu lắm rồi mới lại có một chuyên đề âm nhạc trên báo chí Việt Nam hay đến vậy. Đọc xong chuyên đề tôi đã phải comment thế này: "Kể từ khi nhà báo Danh Đức thôi không viết cho mục LTNT trên Thanh niên Chủ nhật cách đây hơn 10 năm, tôi chưa gặp lại nhà báo nào viết về âm nhạc hay đến thế cho đến khi gặp được anh Chí Viễn với bài báo này".

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

Việt Nam-Sự khác biệt Á Đông

Cái này copy từ TT&VH cuối tuần:

Dị biệt nhất, ta vẫn có một "tiềm ẩn” 5B của du lịch Việt. Thật cứ như một công thức dễ nhớ: Bẩn, Bụi, Bực, Buồn và Bỏ đi. Bẩn ở môi trường, ở vệ sinh an toàn thực phẩm. Bụi ở khắp mọi nơi. Bực vì nạn đeo bám để bán hàng. Buồn vì không biết chơi và giải trí ở đâu. Cuối cùng, khách du lịch đành Bỏ đi nơi khác cho lành.

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Thời xưa cũ

Dạo này nghe đi nghe lại album Time Out of Mind của Bob Dylan. Những âm thanh xưa cũ đầy hoài niệm về một thời đã xa cứ quanh quẩn, vảng vất đâu đó không dứt ra được. Và cũng không chủ tâm muốn dứt bỏ nó.

**
Mấy tuần nay đi nhiều. Trên những con đường đã đi, thỉnh thoảng vút qua kính xe những cây gạo đơn độc giữa cánh đồng, nhưng hoa đỏ rực rỡ và đẹp khôn tả. Những hoa gạo của Tháng Ba.

***
Hôm qua, cũng ngang đường, bỗng vụt qua một ao bèo nở đầy hoa tím dưới ánh mặt trời trong vắt của sớm mai. Đẹp đến mức tôi phải ồ lên kinh ngạc và chỉ cho cả xe cùng trầm trồ khen ngợi.

****
Lần đầu tiên được đọc Thơ Hoàng Cầm một cách có hệ thống. Thơ ông đẹp, tôi chỉ biết nói vậy vì ngôn từ của tôi không đủ để bình luận thơ ông. Có một điều chắc chắn, thơ ông gợi cho tôi nỗi nhớ da diết về miền quê và tuổi thơ tôi. Những thứ Đẹp và Buồn.

Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010

Một đoạn trích từ SOI


Ở đời, Soi nghiệm thấy có ba tình huống nên để tự nhiên, không nên thuyết phục để níu kéo:

1. Nhân viên muốn bỏ việc
2. Vợ chồng muốn bỏ nhau
3. Người đọc muốn bỏ mình (mình đây là Soi)

Có sự lựa chọn dứt bỏ, quay về đó, mọi vật mới tiến triển được. Chồng có bỏ vợ, vợ mới thôi dương dương tự đắc, ngồi soi lại mình. Soi cũng thế, khi bạn đọc bỏ đi, Soi một mặt kiên định với đường mình chọn, một mặt xem lại mình phải làm gì.

Xem thôi, âm thầm, chứ không nói gì để giữ lại. Như vợ không giữ chồng, chỉ âm thầm đi hút mỡ bụng…

Việc ai ở lại, ở lại hay không, hoàn toàn do mỗi người tự quyết, tự rõ. Soi luôn biết ơn những người ở lại với Soi, dù chỉ một tuần ghé qua một lần, hay luôn luôn có mặt bên máy… 

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Bùi Văn Nam Sơn viết về Lỗi hệ thống

Lỗi hệ thống: chủ nhân hoá nạn nhân

Như đã nói, lỗi hệ thống bắt đầu từ chỗ ta không xác định được hoặc xác định không chính xác loại hình, nguyên tắc tổ chức và mô hình điều khiển của hệ thống mà ta muốn tìm hiểu hay xây dựng. Nhìn chung, người ta thường kể ra các lỗi hệ thống chủ yếu sau đây:

Đi một chân: thiết kế hệ thống theo kiểu “độc canh”, không dự liệu khả năng thay thế, chẳng khác gì một chiếc xe không có bánh “xơ cua”. Toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ khi gặp khủng hoảng.

Độc bộ võ lâm: từ “đi một chân” đến chỗ độc tôn, độc quyền chỉ là một bước nhỏ: mất mối quan hệ liên thông với những hệ thống khác và làm ách tắc toàn bộ đại hệ thống.

Nếu tôi không cần, thì chắc mọi người khác cũng không cần!: đánh giá thấp các giá trị, vì chỉ biết vận dụng những thước đo hay những tiêu chuẩn chủ quan của riêng mình. Một sai lầm tiêu biểu của óc duy ý chí.

Sẽ có ai đó dọn dẹp đống rác!: một hệ thống khi vận hành tất yếu sẽ tạo ra “chất thải”. Có những “chất thải tự nhiên” (ví dụ: các phế phẩm trong quá trình sản xuất, những thí sinh thi hỏng…), nhưng cũng có những “chất thải phản tự nhiên” (ví dụ: sản phẩm giả mạo, bằng giả, bằng thật học giả…) Chúng gây những tác hại ghê gớm cho hệ thống, một khi không dự phòng và đảm bảo được công đoạn “thu gom” và tái – xử lý chúng.

Không lưu ý phản hồi: những tiến trình phản hồi diễn ra liên tục và ngày càng gia tăng cường độ sẽ phá huỷ hệ thống và các bộ phận được phản hồi nếu chúng không được lưu ý và xử lý kịp thời, bởi mọi bộ phận đều có sức chịu đựng nhất định, sẽ đạt “công suất” tối đa một lúc nào đó.

Không lưu ý đến những “trị số tới hạn”: cái gì cũng có ranh giới. Không lưu ý sẽ dẫn đến tổn thất, thậm chí đổ vỡ do “tức nước vỡ bờ”.

Ta còn khối!: chủ quan trong việc tự đánh giá về tiềm lực, dẫn đến việc lãng phí nguồn lực luôn có hạn.

Hành động dựa trên những dữ kiện sai lầm: sử dụng nguồn thông tin không đáng tin cậy và thiếu cơ sở khoa học, do bản thân bộ máy và phương pháp thu thập thông tin không phù hợp hoặc thiếu hiệu quả.

Không đủ nhạy cảm và viễn kiến: để áp dụng tư duy nối mạng và các tư duy tiên tiến khác, bên cạnh tư duy hệ thống cổ điển.

Tóm lại, có những hệ thống tự nhiên mà con người chỉ có thể tìm cách thích nghi, đồng thời cũng có vô số hệ thống mà con người là chủ nhân và… sẽ là nạn nhân của chúng, nếu không kịp thời nhận thức và khắc phục các lỗi hệ thống.

Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010

Ước mơ chốn thị thành

Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.

Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.

Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:

“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”

Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:

“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.

Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.

Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”

Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010

Linh tinh

*
Ông Dương Thụ cứ ca ngợi mãi cữ "Cà phê mưa", khiến mình phát thèm mà chưa có lần nào được trải nghiệm. Hà Nội đã lại qua một mùa mưa, nên có lẽ phải đợi đến sang năm mới lại có cơ hội để thử xem cái cà phê dưới trời mưa tầm tã nó thế nào.

*
Đối với mình, cho đến giờ, trải nghiệm cà phê thú vị nhất là vào sáng sớm và chiều muộn. Cà phê sáng cho mình cái tĩnh cần thiết trước một ngày làm việc. Cà phê chiều muộn cho mình nỗi nhớ nhà, khi quán xá vắng tanh và phố phường bắt đầu lên đèn.

Nhưng dù là sáng trưa chiều hay tối, "come rain or come shine" (*), cà phê, theo mình tốt nhất là nên đi một mình. Nếu có hai người trở lên thì cũng phải là những tri kỷ, đủ để ngồi cà phê cùng nhau đó, mà không phải nói với nhau quá nhiều. Có thế, thì cà phê nó mới còn là cà phê. Ngược lại thì nó trở thành... cà pháo mất rồi.

*
Mới mua được "Bốn mùa, Trời và Đất" - tập tản văn của Márai Sándor, nhà văn lưu vong Hungari. Cuốn này là tập hợp rất nhiều tản văn ngắn, đọc rất thú vị. Mình có vẻ quan tâm nhiều đến các tác giả Hungari kể từ khi đọc các tác phẩm của Kónai Janós - chủ yếu do bác Quang A dịch và giới thiệu, và Những người Hungari đoạt giải Nobel. Phải đọc cuốn này thì mới thấy Hungari là một đất nước kỳ lạ: nó sản sinh ra những con người cực kỳ xuất sắc, rồi lại đẩy phần lớn những con người đó vào một cuộc sống lưu vong, thiếu quê hương.

*
Dạo này mình có vẻ hợp với phong cách Ireland, kiểu "in the mood of Ireland" vậy. Rất nhiều những khoảnh khắc phát hiện ra mình đang đọc James Joyce trong lúc nghe Van Morrison. Cũng phải nói thêm là gần đây nghe lại Van Morrison mới phát hiện ra Cleaning Windows đúng là "Lau cửa sổ" thật. Một nghề hẳn hoi. Lau cửa sổ mà thú vị như thế thì ai bảo lau cửa sổ là khổ? Nghe Cleaning Windows cũng không khỏi không liên tưởng đến A Day in the Life của The Beatles ở chỗ cứ lần lượt kể ra trình tự công việc diễn ra trong ngày.

*
Sáng nay 6/9, cả nhà đưa Tít đi khai giảng, do có lợi thế là Tít học ở "trường làng" ngay cạnh nhà. Tiếc là không mang máy ảnh đi chụp cho Tít vài kiểu. Buổi tối lướt FB thấy bác XB "khóc" trên wall, đưa con đi khai giảng mà không hiểu "trường hay là... chuồng, cô hay là... ma cô", cũng muốn khóc theo. Nhưng thế nào thì đó cũng là một ngày trọng đại của con trẻ, con nó vui là mình vui rồi. Những thứ khác, kể gì.

*
Bạn trên FB có tag mình một note rất dài về đền chùa miếu mạo quanh nơi mình sinh ra và lớn lên, làm mình chạnh lòng nhớ tới tuổi thơ xa-mà-gần, cho ngay một comment rất dài. Bạn cũng comment lại, đại ý: "chưa nhìn được về phía trước nên phải nhìn về đằng sau vậy". Kể cũng đúng. Ô, dưng mà bà xã mình dạo này đi học một lớp chính trị, về nhà lại bày đặt bắt đầu tập tành "nhìn về phía trước". Lớp học chính trị mà lại có tác động như thế thì kể cũng thánh thật.

Hay là mình cũng đăng ký học chính trị nhỉ?

*
(*) Come Rain or Come Shine

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010

25/8/2010

*

Trưa muộn, tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngắn, cả văn phòng yên tĩnh một cách lạ thường. Trong khoảng thời gian giữa hai cơn mưa của tháng cô hồn, không gian xung quanh như nhuốm một nét ảm đạm, nhưng tĩnh lặng, và rất thích hợp để nghe nhạc.

Như để thêm vào cái không khí đó một nét trầm, tôi chọn ra các bài của Leonard Cohen trong số 1976 bài từ thư viện iTunes để nghe. Bắt đầu bằng Because Of, rồi Morning Glory, rồi The Faith, qua So Long, Marianne. Đến The Partisan thì tỉnh hẳn, vì nhạc hay quá. Leonard nhấn nhá từng ca từ như thể những con thuyền dập dềnh trên dòng sông âm nhạc với guitar làm chủ đạo, đặc biệt là các âm bass siêu trầm.

Nghe thêm một lúc nữa thì phát hiện ra từ trước đến giờ mình đã bỏ qua không nghe hai bài By the Rivers DarkBoogie Street. Cả hai đều hay và rất hợp với phong cách lounge mà dạo này mình đang kết. Nếu sau này mình có làm một tuyển chọn lounges thì phải cho cả hai bài này vào. Nghe By the Rivers Dark, không hiểu sao cứ nhớ đến Rivers of Babylon của ban nhạc cựu trào Boney M. Có lẽ là tại Leonard đã hát thế này:

Be the truth unsaid

And the blessing gone,


If I forget


My Babylon.



I did not know

And I could not see


Who was waiting there,


Who was hunting me.



By the rivers dark, 


Where it all goes on;


By the rivers dark


In Babylon.

Ngồi ở Highland với ly nâu đá mà nghe bài này thì thật là tuyệt.

**

Buổi chiều tình cờ thế nào lại “được” đi mua sách ở Nguyễn Xí. Vào một nhà sách mà mình chưa vào bao giờ, mặc dù đã đi qua nó không biết bao nhiêu lần. Tình cờ nhìn thấy Dubliners – Người Dublin. Mua, chỉ vì tác giả của nó là James Joyce.

Tại sao lại James Joyce? Vì hai lý do.

Một là Joyce được Hemingway nhắc đến quá nhiều, với thái độ rất trân trọng, đôi lúc có phần ngưỡng mộ, trong cuốn Hội hè miên man của ông. Chẳng hạn như ở đoạn Hemingway nói chuyện với Sylvia – bà chủ thư viện Shakespeare and Company.

“Khi nào Joyce đến?”, tôi hỏi.

“Ông ấy có đến thì cũng thường vào chiều muộn,” bà nói. “Cậu chưa bao giờ gặp ông ấy à?”

“Chúng tôi có thấy ông ấy đi ăn cùng gia đình ở nhà hàng Michaud,” tôi đáp. “Nhưng nhìn người khác đang ăn thật bất lịch sự, vả lại Michaud đắt lắm.”

Hai là, tôi có nghe trong bài I Feel the Change Comin’ On, Bob Dylan đã “tự sự” như thế này: I’m listening to Billy Joe Shaver, and I’m reading James Joyce. Nếu đọc James Joyce mà có thể “cảm” được sự thay đổi đang đến với mình, thì cũng đáng để đọc lắm chứ.

***

Sau đoạn intro, Leonard đã “vào” bài Boogie Street, rất ấm, rất trầm và rất mượt, như thế này: “A sip of wine, a cigarette, And then it’s time to go”.


So come, my friends, be not afraid.
We are so lightly here.
It is in love that we are made;
In love we disappear.
Though all the maps of blood and flesh
Are posted on the door,
There’s no one who has told us yet
What Boogie Street is for.

****
"Boogie Street to me was that street of work and desire, the ordinary life and also the place we live in most of the time that is relieved by the embrace of your children, or the kiss of your beloved, or the peak experience in which you yourself are dissolved, and there is no one to experience it so you feel the refreshment when you come back from those moments....So we all hope for those heavenly moments, which we get in those embraces and those sudden perceptions of beauty and sensations of pleasure, but we're immediately returned to Boogie Street."