Recent Posts
Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012
Thơ thẩn ngày 17/4
Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012
Tắt điện thì làm gì?
Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011
Tiếng gọi lúc nửa đêm
* * *
Sáng đưa bạn Tít đi học, hai bố con vừa đi vừa nói chuyện. Đến giữa đường, bố buột miệng nói với bạn Tít:
- Bố quên một thứ Tít ạ. Đố Tít biết đấy là gì?
- Tít chịu thôi.
- Thuốc lá, bố trả lời.
- Thế trong cả buổi sáng bố không hút có được không?
- Được.
- Thế cả ngày bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả tháng bố không hút điếu nào có được không?
- Được.
- Thế cả năm?
- Cũng được.
- Thế thì bố bỏ luôn đi, còn hút làm gì?
- À, thỉnh thoảng bố mới hút thôi, cho vui ấy mà.
Mà đúng thế, vui thì hút thôi, chứ cũng chẳng nghiện ngập gì.
* * *
Chợt nhớ ra đoạn Lâm Ngữ Đường bàn về thú hút thuốc, chép ra đây hầu bà con, nhất là cho những bà con nào đang định bỏ thuốc, hoặc đang bị "đối tác" yêu cầu bỏ thuốc:
"Thế giới ngày nay gồm hai hạng người: hạng hút thuốc và hạng không hút thuốc. Có nhiều người không hút thuốc mà thấy ai cũng mặc, không can thiệp vào, và nhiều bà vợ chịu cho chồng nằm trên giường mà hút thuốc; vợ chồng như vậy thì chắc chắn là có hạnh phúc trong hôn nhân. Nhưng cũng có một số người cho rằng không hút thuốc là có đạo đức, đáng để tự hào; họ không ngờ rằng họ không được hưởng một cái thú lớn nhất của nhân loại. Tôi sẵn sàng chịu nhận rằng hút thuốc là một nhược điểm về phương diện đạo đức, nhưng chúng ta phải đề phòng những người không có một nhược điểm nào; không thể hoàn toàn tín nhiệm ở họ được. Họ có thể lúc nào cũng điều độ, không mắc một lỗi lầm nào cả. Thói quen của họ rất đều đặn, họ hoạt động như một cái máy và lúc nào cũng để trí óc khống chế tâm tình. Tôi mến những người biết điều bao nhiêu thì ghét những người hoàn toàn hợp lý bấy nhiêu. Cho nên vô nhà nào không thấy tàn thuốc lá thì luôn luôn tôi kinh hoảng và khó chịu. Phòng tiếp khách sạch sẽ và ngăn nắp, nệm đặt đúng chỗ, ngay ngắn, chủ nhà thì nghiêm trang mà vô tình. Thấy vậy, tôi phải xốc áo lại cho ngay ngắn, tỏ vẻ lễ độ, chẳng được thư thái chút nào.
Những con người đàng hoàng, chính trực, vô tình cảm, tầm thường đó làm sao biết hưởng cái thú hút thuốc? Vì bọn hút thuốc chúng tôi thường bị người ta công kích về phương diện đạo đức, chứ không phải về phương diện nghệ thuật, cho nên trước hết tôi xin bênh vực đạo đức của chúng tôi đã, mà xét về đại thể tôi cho là cao hơn đạo đức hạng người không hút thuốc. Người nào ngậm ống điếu là người hợp ý tôi. Người đó có tài hơn, vui tính hơn, dễ cởi mở nỗi lòng hơn, đôi khi nói năng bặt thiệp hơn; và dù sao tôi cũng có cảm tưởng người đó mến tôi cũng như tôi mến người đó. Tôi hoàn toàn đồng ý với Thackeray khi ông viết: "Triết gia mà ngậm ống điếu thì minh trí hơn lên, còn kẻ ngu độn mà ngậm ống điếu thì câm cái miệng lại; ống điếu làm cho cuộc đàm thoại có cái phong cách trầm tư, thâm thuý, nhân từ và giản dị". Hơn nữa, một người ngậm ống điếu thì luôn luôn sung sướng mà không có đức nào lớn bằng hạnh phúc.
Muốn nhận đúng được cái giá trị nghệ thuật của thuốc lá thì phải tưởng tượng một người nghiện thuốc mà bỏ thuốc trong một thời gian ngắn. Người nghiện thuốc nào cũng đã có lần điên khùng muốn thoát ly được nàng Yên-thảo-tinh (Nicotine), nhưng sau khi chiến đấu với cái lương tâm tưởng tượng của mình rồi lại khôi phục được lý trí mà "đào điếu lên". Tôi cũng đã có lần ngưng hút trong ba tuần và sau thời kỳ đó lương tâm của tôi đã nhất định kéo tôi trở lại chánh đạo. Hễ còn chút nghị lực thì tôi thề là sẽ không mắc lại cái lỗi điên khùng đó nữa mà sẽ suốt đời sùng bái nàng Yên-thảo-tinh. Sự phát minh vô cùng hữu ích đó giúp cho tinh thần ta được sảng khoái, minh mẫn, mà lại cự tuyệt nó thì quả là một hành vi vô đạo đức. ...
Ta không thể viện một lý do xã hội, chính trị, luân lý hay sinh lý, hay tài chính nào để tự cấm ta đạt được cái tình trạng sảng khoái tinh thần đó, nó làm cho sức tưởng tượng của ta phong phú lên, năng lực sáng tác của ta sung mãn và kích động mạnh lên để có thể hưởng được hết cái thú đàm đạo với bạn thân ở bên lò sưởi, cái thú đọc một áng cổ văn hoặc để tìm nổi một tiếng diễn đúng cái ý của ta trong khi sáng tác. Những lúc đó, ai cũng tự nhiên thấy rằng chỉ đốt một điếu thuốc mới là một hành động thích hợp, chứ bỏ một cục kẹo cao su vào miệng thì là một trọng tội."
Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011
Kinh tế mà không phải kinh tế mà lại là kinh tế
* Gần như tất cả các "anh" trong bài này, trừ anh Lửa Hạ, toàn là đáng tuổi cha, chú mình, lẽ ra phải gọi là chú thì mới phải phép, nhưng xin được gọi là "anh" cho tiện.
Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011
Muốn viết

1. Trong ảnh là một cuốn sách tôi đang đọc: Investment Biker. Cuốn này mua trong chuyến đi Siem Reap hồi đầu năm ngoái, rồi bẵng đi không sờ đến. Giờ lôi ra đọc mới thấy tiếc vì đã không đọc nó sớm hơn: một cuốn sách thực sự tạo cảm hứng, ít nhất là cho riêng tôi. Jim Rogers, một nhà đầu tư có hạng (như sau này tìm hiểu mới biết, ông là người cùng George Soros sáng lập ra Quỹ Quantum lừng danh), đã "nghỉ hưu" ở tuổi 37 để thực hiện một chuyến du hành vòng quanh thế giới bằng xe máy, để được đến tận nơi và quan sát về các nền kinh tế khác nhau. Tôi rất muốn đọc nó thật nhanh để có thể viết vài dòng cảm nhận và suy nghĩ về cuốn sách, nhưng có cái gì đó trong tôi cứ làm tôi đọc nó thật chậm, như thể nếu kết thúc nó quá sớm, cái cảm hứng kia cũng sẽ biến mất.
2. Về một cái mái hiên cụ thể, tôi đã có dịp viết ở đây. Nhưng những ngày này, tôi lại muốn viết về mái hiên nói chung, như là một vùng đệm cho cái sự giao hoà với thế giới bên ngoài của con người.
3. Một cuốn khác tôi cũng đang đọc dở là Sống Đẹp của Lâm Ngữ Đường. Vừa đọc vừa nghĩ mình đọc cuốn này muộn quá, một cuốn đúng như cụ Nguyễn Hiến Lê đã nhận xét là gợi nhiều "suy nghĩ". Đọc cuốn này mới biết ngày xưa Thánh Thán có viết "Ba mươi ba lúc vui của Kim Thánh Thán", cũng muốn bắt chước cụ để viết "ba mươi ba lúc vui" của chính mình.
4. Không biết từ bao giờ tôi bị nhiễm cái tật là đọc nhiều cuốn sách trong cùng một khoảng thời gian, trừ những cuốn quá mỏng hoặc quá cuốn hút đến mức đọc một mạch không nghỉ, hoặc tuy cuốn đó dầy nhưng được đọc trong một kỳ nghỉ dài (Nghỉ Tết chẳng hạn). Cái sự lề mề đó ở tôi quả là xấu, nhưng bù lại, tôi lại thấy lợi ở hai điểm. Một là dần dần, tôi trở nên mẫn cảm với việc lựa chọn cuốn này thì "có thể" phù hợp nhất để đọc vào thời điểm nào trong không gian nào, và để khi đọc xong kiểm nghiệm xem điều đó có đúng không. Cho nên cái thú không phải chỉ là ở việc đọc sách và ở thời điểm đọc sách, mà là những gì diễn ra sau đó nữa, như thể cái "hậu vị" của thứ chè mạn Thái Nguyên hảo hạng. Và hai là, có những khoảng thời gian ta được trải nghiệm rất nhiều cảm xúc đẹp, như hai cuốn đã dẫn ở trên là một ví dụ: một cuốn gợi nhiều "suy nghĩ", cuốn còn lại, gợi nhiều "cảm hứng". Thế thì còn gì bằng?
Thứ Hai, 12 tháng 9, 2011
Một định nghĩa về sự "Dã man"
Nguyên bản tiếng Pháp: Jean-Claude Guillebaud
Người dịch: Hoàng Hà.
Lời kết mỉa mai của cuốn sách thật hay này chính là chìa khoá. Ban đầu tôi cũng tự hỏi không hiểu cái cảm giác về một sự rõ ràng, tươi mát, “mới mẻ” hoàn toàn khi đọc cuốn sách tìm hiểu thực tế Việt Nam này ở đâu ra. Câu trả lời hoá ra lại đơn giản: đó là do các tác giả đã hoàn toàn bỏ qua các định kiến, mà suy cho cùng các định kiến ấy là do tính chuộng ngoại lai mà ra. Chuộng ngoại lai hiểu cho đúng cũng là một dạng dối trá. Bao giờ cũng dối trá. Chính nó ve vãn và làm khách du lịch lạc lối.
Chúng ta hãy cùng nhớ tới những lời quảng cáo năm này qua năm khác mời gọi ta lên đường. Phần lớn những lời quảng cáo này đều có một tính hai mặt đáng ngờ. Đó chính là nghịch lý căn bản của mỗi chuyến đi, mỗi khám phá (rởm). Có thể tóm lại trong vài từ. Thứ mà chúng ta đi tận chân trời góc bể để kiếm tìm, thứ “ngoại lai” rởm ấy chẳng qua cũng chỉ là “đồ sơn” mà thôi. Cái cứ tưởng là “nơi khác” ấy khiến chúng ta bỏ tiền ra mua lời hứa hẹn trong các ca ta lô của các hãng lữ hành chuyên nghiệp, nó là một trò dối trá thô thiển nhằm đáp ứng một nhu cầu mà ta có thể tạm coi là chủ nghĩa tiêu thụ.
Cái chúng ta tìm kiếm một cách bản năng khi rời khỏi quê hương, khỏi thường nhật, khỏi môi trường quen thuộc, đó không chỉ là vẻ đẹp đặc thù của phong cảnh hay công trình. Chúng ta còn hy vọng sẽ có thêm chút gì thật là khác thường, một sự lạ nước lạ cái hoàn toàn, một sự “khác biệt” càng lớn càng tốt. Đi thăm chợ ả rập, phố Ấn độ hay đường mòn châu Phi, chúng ta muốn được sửng sốt trước những người đàn ông và đàn bà có cách sống khác, truyền thống khác và thế giới quan khác. Khác tuyệt đối.
Tất cả những sản phẩm báo chí nói về lữ hành chẳng qua cũng chỉ nhằm tụng ca một cách ít nhiều khéo léo về sự “khác biệt” này. Phụ nữ cao cổ ở Myanmar, thầy tu khổ hạnh ở Bénarès, người Inuit ở Groenland, nông dân còng lưng dưới ruộng ở Việt Nam: đó là sự lạ mà các hãng lữ hành mời chúng ta tận hưởng.
Vậy mà, cách nhìn thế giới như vậy là ngược lại với sự thật. Trước hết, cái mà chúng ta cho là đẹp như tranh thường là do tác động của nghèo đói. Cái mà chúng ta cho là thú vị (những đám đông chân trần lê bước ở châu Phi, những thành phố lúc nhúc loè loẹt, những bà nông dân còng lưng gánh củi, .v.v.), lại chính là nỗi khốn cùng của người trong cuộc. Trong cái cách mà khách du lịch lượn quanh các chợ nhòm ngó, máy ảnh nháy lia lịa, có chút gì đó hơi dã man.
Sau đó, phải thấy là cả thế giới đã thay đổi, nhất thể hoá, đô thị hoá và phát triển. Những cô bé chăn dê ở châu Phi ngày nay nghe nhạc techno bằng máy kỹ thuật số; sư sãi ở Việt Nam đi taxi và học vi tính; các dân tộc trên thế giới cũng, giống như chúng ta, muốn tham gia vào tất cả những gì gọi là toàn cầu và sự đơn điệu của nó. Sự tầm thường hoá hành tinh đương nhiên làm chúng ta không thoả được cơn khát ngoại lai. Nó làm ta bực bội. Nên ta cứ có xu hướng muốn giữ lại sự hư cấu về cái đẹp đẽ đã qua, nhốt người dân các xứ sở xa xôi trong nhà tù của sự khác biệt. Để đạt được mục đích ấy, ta sẽ lại sáng tạo ra một thế giới tưởng tượng, còn giả hơn cả đề co sân khấu; ta sẽ quay phim như thể đó là một vườn bách thú màu sắc khổng lồ. Ta sẽ đòi các dân tộc phải giống y hệt ý ta.
Tôi vẫn còn nhớ một câu chuyện được nghe ở châu Đại dương. Ở quốc đảo Fidji, chính phủ năm nào cũng yêu cầu nhân dân không mặc quần áo kiểu phương Tây trong mùa du lịch để khỏi làm khách thất vọng. Nói thế là đủ hiểu.
Thực ra nước nào cũng có nét ngoại lai đặc thù của mình và cả một bộ sưu tập các hình ảnh mà người ta thường quen gán cho nơi ấy. Đối với trường hợp Việt Nam, các hình ảnh định sẵn ấy trong đầu óc chúng ta có nhiều tầng nghĩa. Tất nhiên trong đó có những hình ảnh về vẻ đẹp rực rỡ của phong cảnh. Ngay cuối thế kỷ XIX, những người đầu tiên phát hiện ra Việt Nam đã mê đắm kể về những ruộng lúa bát ngát bao quanh là những rặng núi ẩn hiện trong mây. Họ tả về những ruộng lúa sắp xếp khéo léo như những tổ ong, phân cách đất và nước từng xăng ti mét một, tới tận chân trời; những ô bờ đê bằng đất sét bao lấy những người đàn bà oằn vai dưới sức nặng của chiếc đòn gánh; những động tác và nhịp điệu ấy – những chiếc gầu tưới mà hai người đàn ông đứng đối mặt cùng nhịp nhàng kéo nước, những con trâu bì bõm trong nước ngập tới nửa ống chân.
Bổ sung vào những tụng ca dai dẳng về vẻ đẹp địa lý – quả thật là không thể chối cãi -, qua thời gian còn có thêm những kỷ niệm về thời thực dân và các cuộc chiến tranh liên tiếp diễn ra sau đó. Lính Pháp, những cựu binh Đông Dương, đã góp phần lớn vào việc làm cho đất nước này có một sự “mê hoặc” đặc biệt. Lính thuỷ đánh bộ Mỹ, vượt qua nỗi đau thể xác và tinh thần, đã phát triển, và làm lan truyền, một nỗi nhớ Việt Nam lạ lùng và da diết. Thậm chí họ còn chế ra từ “namstalgie” để chỉ nỗi nhớ này. Qua bao năm lắng lại, tất cả những hình ảnh này cuối cùng đã tạo ra một Việt Nam tưởng tượng, một Việt Nam ảo trong đó đời sống của nhân dân ra sao, xã hội (thực) biến chuyển thế nào ít ai quan tâm. Phần lớn sách báo và sách hướng dẫn du lịch ở các nước phương Tây đều nói tới nước Việt Nam tưởng tượng này.
Trong khi đó, nước Việt Nam thật lại rất ít được biết đến – giống như phía kia của mặt trăng. Philippe Papin và Laurent Passicousset sẽ giúp chúng ta khám phá “mặt khuất” này. Để làm được như vậy họ có một thái độ bình tĩnh – thậm chí hài hước nhẹ nhàng – mà chỉ những người hiểu tường tận đất nước và ngôn ngữ này mới có được, mà những người như vậy đâu có nhiều.
Với tất cả những ai, giống như người viết những dòng này, yêu mến Việt Nam từ lâu nay, với những ai tưởng rằng mình có chút hiểu biết về đất nước này, có được cuốn sách này quả là duyên trời định, tuy nghe có vẻ nghịch lý. Khách quan nhưng uyên bác, xây dựng nhưng phê phán, những trang sách đưa ta thẳng đến thực tế, một thực tế trần trụi nhưng đáng say mê của một đất nước.
Jean-Claude Guillebaud
Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2011
K. V.
Nhà văn kiệt xuất Albert Murray, sử gia nhạc jazz và là một trong những người bạn của tôi, bảo tôi rằng suốt thời kỳ nô lệ ở đất nước này, tỷ lệ tự sát trên đầu người trong số các chủ nô cao hơn nhiều so với tỷ lệ tự sát trong số các nô lệ.
Murray nói có lẽ là do những người nô lệ có cách đối phó với chứng trầm uất, cách mà người chủ da trắng của họ không có: họ có thể đuổi Lão Già Tự Sát đi bằng cách chơi và hát nhạc Blues. Ông nói một điều nữa mà tôi nghe cũng thấy đúng: nhạc Blues không thể đuổi hẳn u uất ra khỏi nhà, nhưng có thể dồn nó vào góc tường của bất kỳ căn phòng nào có tiếng nhạc Blues. Vậy nên xin hãy nhớ điều đó.
**
Bằng chứng duy nhất ông cần để chứng tỏ sự tồn tại của những thượng đế là âm nhạc.
Trích K. V, không phải Kurt Cobain.-:)
Thứ Năm, 21 tháng 7, 2011
Sách mới chả sex
Giờ ngồi nghĩ lại tôi thấy mình đọc sách chẳng phải để đi tìm những triết lý cao siêu, những lời răn dạy, cũng chẳng phải là một kiểu "khám phá thế giới". Xét cho cùng những điều tôi thu hoạch được từ những cuốn sách thường là nhỏ bé, vụn vặt. Chẳng hạn khi còn nhỏ, những thứ đọng lại trong tôi sau khi đọc Không gia đình là những con phố sương mù bẩn lép nhép của thành London, rằng thì ở nước Anh người ta không chặt cành cây, món sữa bò có vị thơm hoa cam ở một vùng nông thôn nước Pháp, hay là món khoai tây luộc ăn kèm với thịt bò nướng,... Hoặc như sau này khi đã lớn, đọc Murakami chẳng hạn, tôi thấy vui khi bắt gặp trong những trang sách của ông bản nhạc mà tôi yêu thích, và sau đó nữa, thích thú hơn khi nhặt được ngoài hàng băng đĩa một CD do chính Murakami làm Nhà sản xuất (*). Hoặc như khi đọc Hành trình ngày thơ ấu chẳng hạn, cái hình ảnh ấn tượng nhất là cái bóng đèn thủy tinh lấm tấm bọt, được rửa sạch bong trong nhà cậu bé Cọn. Nói chung là toàn những thứ linh tinh lang tang như vậy, chẳng đáng kể gì.
Thế nhưng nó vui, và tôi biết tất cả những điều nhỏ bé li ti đó đã vô tình góp phần làm nên con người tôi như hôm nay. Quá trình đó diễn ra một cách vô thức, và tôi cũng đọc một cách vô thức như vậy, không cố gắng, không lên gân. Tôi để việc đọc và cảm nhận diễn ra một cách tự nhiên, như ăn uống hít thở hàng ngày vậy. Và để mặc cho trí tưởng tượng của mình đi theo từng con chữ, lang thang, vô định, không chủ đích.
Vậy nên trí tưởng tượng bé mọn của tôi chẳng thể hiểu được, tại sao và làm thế nào, việc đọc tiểu thuyết lại có thể "gần với ái ân", như là bác Nhật Chiêu đã nhận định như vậy, trong bài điểm sách đăng trên SGTT hôm qua. Hay là bác Nhật Chiêu đã quá thấm và ngộ tinh thần Thiền của nước Nhật nhỉ?
Giờ thì ta đã có thể yên tâm "ăn chay", miễn là trong nhà có nhiều tiểu thuyết. He he.
Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011
Trên sa mạc và trong rừng thẳm
2. Khi tôi viết những dòng này thì đã hết nửa năm 2011. Đã một trăm năm kể từ khi Trên sa mạc và Trong rừng thẳm được viết ra. Và vẫn có một thằng là tôi dùng ký-ninh mỗi ngày. Tôi biết điều đó là nhờ vào dòng chữ "Có chứa Quinine" trên vỏ lon Tonic tôi dùng để đổ vào ly Gin mỗi tối. Uống đều. Chẳng phải là để chữa sốt rét, mà là những cơn sốt triền miên của mệt mỏi, dằn vặt, buồn bã. Những nỗi buồn phát sốt. Nếu là một cơn sốt vì tình yêu một thời, như nhóm Bee Gees đã thổ lộ qua Saturday Night Fever, thì lại là một nhẽ. Đằng này lại là phát sốt vì những bức bối ngột ngạt thường ngày. Tôi cũng như đang lang thang trên một sa mạc, không chết khát vì thiếu nước mà chết vì thiếu những ý tưởng mới. Mọi việc thì rối mù và tôi cũng như đang lạc trong một khu rừng rậm, thăm thẳm sâu mà chưa tìm ra lối thoát.
3. Hiện thời thì tôi chỉ biết uống Quinine đều đặn mỗi ngày, để ngăn ngừa những cơn sốt. Nhưng uống nhiều mới biết, cái thứ Dry London Gin cũng gây khát nước không khác gì đi trên sa mạc, và làm cho đầu óc quay mòng mòng như lạc trong rừng thẳm thật.
Giữa mớ bòng bong ấy, vẫn bùng lên câu hỏi, khi nào thì được uống Gin & Tonic để chữa trị cho những Saturday Night Fever, và chỉ cho những cơn- sốt-đêm-thứ-Bảy mà thôi?
4. Những lúc như thế này lại thèm được nghe Eric Clapton rên rỉ cùng ngón guitar điêu luyện điệu blues kinh điển: Nobody Knows When You Are Down and Out.
Once I lived the life of a millionaire
Spent all my money, I just did not care
Took all my friends out for a good time
Bought bootleg whiskey, champagne and wine
Then I began to fall so low
Lost all my good friends, I did not have nowhere to go
I get my hands on a dollar again
I'm gonna hang on to it till that eagle grins
'Cause no, no, nobody knows you
When you're down and out
In your pocket, not one penny
And as for friends, you don't have any
When you finally get back up on your feet again
Everybody wants to be your old long-lost friend
Said it's mighty strange, without a doubt
Nobody knows you when you're down and out.
Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2011
Nhã Nam
1. Nếu một đêm đông có người lữ khách
2. Một tiểu thuyết Pháp
3. Thơ Hoàng Cầm
4. Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa (1847-1885)
5. Trò chuyện trong quán La Catedral
6. Xuân Quỳnh, Không bao giờ là cuối
8. Nhóc Nicolas, trọn bộ
9. Những ngã tư và những cột đèn
10. Henderson, Ông hoàng mưa
11. Đầu óc người Ý
12. Con lươn chép miệng
13. Lịch sử Hà Nội
14. Cedric, trọn bộ
15. Thị Dân
16. Bốn mùa, Trời và Đất
17. Cà phê Mưa
18. Người chăn kiến
19. Thơ Nguyễn Duy
20. Istanbul
21. Vô tri
22. Chúa ruồi
23. Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
24. Haroun và Biển truyện
25. Viết
26. Ngàn dặm không mây
27. Biển và chim bói cá
28. Chỉ tại con chích choè
29. Lại chơi với lửa
30. Vu khống
31. Tình yêu kéo dài ba năm
32. Ba ơi, mình đi đâu?
33. Moon Palace
34. Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình
35. Hội hè miên man
36. Vũ trụ trong một nguyên tử
37. Thế giới là một cuốn sách mở
38. Shiddharta
39. Nam tước trên cây
40. Những bài Dã sử Việt
41. Ăn, Cầu nguyện, Yêu (cái này vợ mua, -:))
42. Những mối tình nực cười
43. Tôi nói gì khi nói về chạy bộ
44. Biên niên ký chim vặn dây cót
42. Trên đường
43. Dưới bóng những cô gái tuổi hoa
44. Kalson trên mái nhà
45. Tobie Lolness, trọn bộ
46. Giết con chim nhại
47. Du hành cùng Herodotus
48. Bắt trẻ đồng xanh
49. Quê hương tan rã
50. Gấu Pooh xinh xắn
51. Lũ trẻ nhà Penderwicks
51. Momo
52. Con người hoan lạc
53. Cuộc đời của Pi
54. Tôn Ngộ Không ba lần đánh Bạch Cốt Tinh, -:)
Chỉ còn một số cuốn muốn mua:
1. Tuyết
2. Khuyến học
3. Cuộc sống ở trước mặt
4. Ở lưng chừng thời gian
5. Biếm hoạ Việt Nam (Lý Trực Dũng)
Thứ Năm, 23 tháng 6, 2011
Một lời khuyên "lầm lạc"
Trích NBCT.
Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011
Trên đường
Khi tôi buông cuốn sách và nhìn lên, trước mặt là cả một tấm màn dịu êm kết bằng những tán phi lao xanh sẫm. Trên cao nữa, là bầu trời xanh ngắt vời vợi. Mặt trời chếch đâu đó phía trên ngọn phi lao, nắng làm cho những chiếc lá kim thêm lấp lánh.
Ngoài kia, chỉ cách nơi tôi nằm khoảng 50 mét, là biển. Vịnh Bái Tử Long. Mặt nước êm như mặt hồ, sóng chỉ hơi gợn lăn tăn. Thoạt tiên nước hơi đục và có màu nâu đất, rồi đến một lớp nước màu xanh nhạt, rồi đậm dần về phía xa, nơi những hòn đảo nhỏ, những vảy rồng theo truyền thuyết đang ngự trị. Cả những hòn đảo cũng xanh. Và qua những hòn đảo, lại là bầu trời.
Dư âm của những gì tôi đọc được trong Trên đường lẫn vào những tia nắng mặn mòi vùng biển, tiếng người lao xao, và tiếng gió thổi qua những rặng phi lao vi vút.
Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011
MeNuK: Con người Tự nhiên Văn hoá
#1. Là của Bùi Văn Nam Sơn về Con người Tự nhiên Văn hoá. Không thể viết thêm được bình luận gì vì bản thân bài viết đã quá hoàn chỉnh.
#2. Là một chuyên đề về nhạc Blues trên TT&VH Cuối tuần. Lâu lắm rồi mới lại có một chuyên đề âm nhạc trên báo chí Việt Nam hay đến vậy. Đọc xong chuyên đề tôi đã phải comment thế này: "Kể từ khi nhà báo Danh Đức thôi không viết cho mục LTNT trên Thanh niên Chủ nhật cách đây hơn 10 năm, tôi chưa gặp lại nhà báo nào viết về âm nhạc hay đến thế cho đến khi gặp được anh Chí Viễn với bài báo này".
Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011
Việt Nam-Sự khác biệt Á Đông
Dị biệt nhất, ta vẫn có một "tiềm ẩn” 5B của du lịch Việt. Thật cứ như một công thức dễ nhớ: Bẩn, Bụi, Bực, Buồn và Bỏ đi. Bẩn ở môi trường, ở vệ sinh an toàn thực phẩm. Bụi ở khắp mọi nơi. Bực vì nạn đeo bám để bán hàng. Buồn vì không biết chơi và giải trí ở đâu. Cuối cùng, khách du lịch đành Bỏ đi nơi khác cho lành.
Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011
Thời xưa cũ
**
Mấy tuần nay đi nhiều. Trên những con đường đã đi, thỉnh thoảng vút qua kính xe những cây gạo đơn độc giữa cánh đồng, nhưng hoa đỏ rực rỡ và đẹp khôn tả. Những hoa gạo của Tháng Ba.
***
Hôm qua, cũng ngang đường, bỗng vụt qua một ao bèo nở đầy hoa tím dưới ánh mặt trời trong vắt của sớm mai. Đẹp đến mức tôi phải ồ lên kinh ngạc và chỉ cho cả xe cùng trầm trồ khen ngợi.
****
Lần đầu tiên được đọc Thơ Hoàng Cầm một cách có hệ thống. Thơ ông đẹp, tôi chỉ biết nói vậy vì ngôn từ của tôi không đủ để bình luận thơ ông. Có một điều chắc chắn, thơ ông gợi cho tôi nỗi nhớ da diết về miền quê và tuổi thơ tôi. Những thứ Đẹp và Buồn.
Thứ Sáu, 1 tháng 10, 2010
Một đoạn trích từ SOI
Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010
Bùi Văn Nam Sơn viết về Lỗi hệ thống
Lỗi hệ thống: chủ nhân hoá nạn nhân
Như đã nói, lỗi hệ thống bắt đầu từ chỗ ta không xác định được hoặc xác định không chính xác loại hình, nguyên tắc tổ chức và mô hình điều khiển của hệ thống mà ta muốn tìm hiểu hay xây dựng. Nhìn chung, người ta thường kể ra các lỗi hệ thống chủ yếu sau đây:
Đi một chân: thiết kế hệ thống theo kiểu “độc canh”, không dự liệu khả năng thay thế, chẳng khác gì một chiếc xe không có bánh “xơ cua”. Toàn bộ hệ thống sẽ sụp đổ khi gặp khủng hoảng.
Độc bộ võ lâm: từ “đi một chân” đến chỗ độc tôn, độc quyền chỉ là một bước nhỏ: mất mối quan hệ liên thông với những hệ thống khác và làm ách tắc toàn bộ đại hệ thống.
Nếu tôi không cần, thì chắc mọi người khác cũng không cần!: đánh giá thấp các giá trị, vì chỉ biết vận dụng những thước đo hay những tiêu chuẩn chủ quan của riêng mình. Một sai lầm tiêu biểu của óc duy ý chí.
Sẽ có ai đó dọn dẹp đống rác!: một hệ thống khi vận hành tất yếu sẽ tạo ra “chất thải”. Có những “chất thải tự nhiên” (ví dụ: các phế phẩm trong quá trình sản xuất, những thí sinh thi hỏng…), nhưng cũng có những “chất thải phản tự nhiên” (ví dụ: sản phẩm giả mạo, bằng giả, bằng thật học giả…) Chúng gây những tác hại ghê gớm cho hệ thống, một khi không dự phòng và đảm bảo được công đoạn “thu gom” và tái – xử lý chúng.
Không lưu ý phản hồi: những tiến trình phản hồi diễn ra liên tục và ngày càng gia tăng cường độ sẽ phá huỷ hệ thống và các bộ phận được phản hồi nếu chúng không được lưu ý và xử lý kịp thời, bởi mọi bộ phận đều có sức chịu đựng nhất định, sẽ đạt “công suất” tối đa một lúc nào đó.
Không lưu ý đến những “trị số tới hạn”: cái gì cũng có ranh giới. Không lưu ý sẽ dẫn đến tổn thất, thậm chí đổ vỡ do “tức nước vỡ bờ”.
Ta còn khối!: chủ quan trong việc tự đánh giá về tiềm lực, dẫn đến việc lãng phí nguồn lực luôn có hạn.
Hành động dựa trên những dữ kiện sai lầm: sử dụng nguồn thông tin không đáng tin cậy và thiếu cơ sở khoa học, do bản thân bộ máy và phương pháp thu thập thông tin không phù hợp hoặc thiếu hiệu quả.
Không đủ nhạy cảm và viễn kiến: để áp dụng tư duy nối mạng và các tư duy tiên tiến khác, bên cạnh tư duy hệ thống cổ điển.
Tóm lại, có những hệ thống tự nhiên mà con người chỉ có thể tìm cách thích nghi, đồng thời cũng có vô số hệ thống mà con người là chủ nhân và… sẽ là nạn nhân của chúng, nếu không kịp thời nhận thức và khắc phục các lỗi hệ thống.
Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010
Ước mơ chốn thị thành
Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.
Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.
Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:
“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”
Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:
“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.
Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.
Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”
Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.
Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010
Linh tinh
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010
25/8/2010
*
Trưa muộn, tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngắn, cả văn phòng yên tĩnh một cách lạ thường. Trong khoảng thời gian giữa hai cơn mưa của tháng cô hồn, không gian xung quanh như nhuốm một nét ảm đạm, nhưng tĩnh lặng, và rất thích hợp để nghe nhạc.
Như để thêm vào cái không khí đó một nét trầm, tôi chọn ra các bài của Leonard Cohen trong số 1976 bài từ thư viện iTunes để nghe. Bắt đầu bằng Because Of, rồi Morning Glory, rồi The Faith, qua So Long, Marianne. Đến The Partisan thì tỉnh hẳn, vì nhạc hay quá. Leonard nhấn nhá từng ca từ như thể những con thuyền dập dềnh trên dòng sông âm nhạc với guitar làm chủ đạo, đặc biệt là các âm bass siêu trầm.
Nghe thêm một lúc nữa thì phát hiện ra từ trước đến giờ mình đã bỏ qua không nghe hai bài By the Rivers Dark và Boogie Street. Cả hai đều hay và rất hợp với phong cách lounge mà dạo này mình đang kết. Nếu sau này mình có làm một tuyển chọn lounges thì phải cho cả hai bài này vào. Nghe By the Rivers Dark, không hiểu sao cứ nhớ đến Rivers of Babylon của ban nhạc cựu trào Boney M. Có lẽ là tại Leonard đã hát thế này:
Be the truth unsaid
And the blessing gone,
If I forget
My Babylon.
I did not know
And I could not see
Who was waiting there,
Who was hunting me.
By the rivers dark,
Where it all goes on;
By the rivers dark
In Babylon.
Ngồi ở Highland với ly nâu đá mà nghe bài này thì thật là tuyệt.
**
Buổi chiều tình cờ thế nào lại “được” đi mua sách ở Nguyễn Xí. Vào một nhà sách mà mình chưa vào bao giờ, mặc dù đã đi qua nó không biết bao nhiêu lần. Tình cờ nhìn thấy Dubliners – Người Dublin. Mua, chỉ vì tác giả của nó là James Joyce.
Tại sao lại James Joyce? Vì hai lý do.
Một là Joyce được Hemingway nhắc đến quá nhiều, với thái độ rất trân trọng, đôi lúc có phần ngưỡng mộ, trong cuốn Hội hè miên man của ông. Chẳng hạn như ở đoạn Hemingway nói chuyện với Sylvia – bà chủ thư viện Shakespeare and Company.
“Khi nào Joyce đến?”, tôi hỏi.
“Ông ấy có đến thì cũng thường vào chiều muộn,” bà nói. “Cậu chưa bao giờ gặp ông ấy à?”
“Chúng tôi có thấy ông ấy đi ăn cùng gia đình ở nhà hàng Michaud,” tôi đáp. “Nhưng nhìn người khác đang ăn thật bất lịch sự, vả lại Michaud đắt lắm.”
Hai là, tôi có nghe trong bài I Feel the Change Comin’ On, Bob Dylan đã “tự sự” như thế này: I’m listening to Billy Joe Shaver, and I’m reading James Joyce. Nếu đọc James Joyce mà có thể “cảm” được sự thay đổi đang đến với mình, thì cũng đáng để đọc lắm chứ.
***
Sau đoạn intro, Leonard đã “vào” bài Boogie Street, rất ấm, rất trầm và rất mượt, như thế này: “A sip of wine, a cigarette, And then it’s time to go”.
So come, my friends, be not afraid.
We are so lightly here.
It is in love that we are made;
In love we disappear.
Though all the maps of blood and flesh
Are posted on the door,
There’s no one who has told us yet
What Boogie Street is for.




