Recent Posts

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đọc sách. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 5 tháng 4, 2012

Vòng quanh nước Mỹ qua trang sách

Trong vòng hai tuần được du hành vòng quanh nước Mỹ hai lần: Lần một với H. H qua lời kể của Nabokov [Lolita] và lần hai với Steinbeck qua lời kể của chính ông [Tôi, Charley và hành trình nước Mỹ].

-         Cả hai tác giả này mình đều đọc lần đầu tiên, và sẽ còn tìm đọc tiếp.
-      Tổng thời gian từ lúc mua về đến lúc đọc xong Lolita chỉ chưa đầy 24 tiếng, y như lão Trư ăn nhân sâm. Vì thế mà mình bỏ qua hầu hết chú thích của Dương Tường, và tự nhủ sẽ đọc lại lần hai một cách nhẩn nha hơn. Không hiểu sao khi đọc cuốn này cứ liên tưởng đến “No Country for Old Men”. Còn hành trình của Steinbeck đọc lai rai mất hơn một tuần mới xong. Lúc đầu thấy có nhiều đoạn hay, muốn trích dẫn ra, nhưng rồi phát hiện ra là phải trích dẫn “toàn bộ” cuốn sách, vì đoạn nào cũng thích cả.-:)
-        Các dạng nhật ký hành trình vẫn luôn luôn là thể loại yêu thích của mình.

Một vài hành trình loanh quanh trên đất Mỹ:

Hanh trinh
My
 

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2011

G9

Đọc "Mười năm đi & sống với Sơn Nam" của Đào Tăng, cũng nhặt được vài chi tiết thú vị, nhưng rốt cuộc, cũng là vì tò mò thêm một chút về Sơn Nam, chứ bản thân cuốn sách viết quá chán.

Được mỗi cái sách trình bày đẹp, in trên giấy đẹp và đặc biệt nhẹ (phong cách mới của Nxb Trẻ trong nỗ lực "đuổi kịp" các bạn Tây, giảm áp lực cho cánh tay và giá sách).

Đọc hết quyển sách mỏng, hoá ra bài hay nhất lại nằm ở phần Phụ lục, một bài Sơn Nam trả lời phỏng vấn Nguyễn Trần Huy từ năm... 1968, và đương nhiên không phải do tác giả cuốn sách viết. -:)

Thế là cũng gỡ gạc được nhiều, giống như ngày xưa mua đĩa nhạc, cả đĩa chỉ cần có 1 bài nghe được là đã mừng lắm rồi.

G9

Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011

Mùa vàng

Cuối cùng thì hàng cũng đã về:

photo.JPG

Trần Dần thì đã có "mùa sạch", bây giờ mình mới để ý là có thêm cả "mùa sách". Chẳng hiểu có phải thời tiết đang đẹp hay không mà sách mới đồng loạt ra nhiều thế, tỷ lệ sách đáng mua cũng tăng lên đáng kể. Chỉ tội cho cái ví tiền vốn đã "lép kẹp" nay càng lép hơn: Hầu hết các cuốn đáng đọc đã có giá bìa vượt qua ngưỡng 100K/cuốn. Thắc mắc với chị Hoa Đinh Lễ, bà chị cười rất tươi rồi bảo: Thì khủng hoảng mà em. À, thì ra con ma lạm phát đã trùm cái bóng của mình lên phố sách.

Cuốn Einstein là cuốn mua ngoài dự kiến, chỉ vì cái tên tác giả: Walter Isaacson. Đang đợi một cuốn sẽ ra trong vài ngày nữa cũng của bác này Steve Jobs by Walter Isaacson. Không biết có đọc nổi hay không, hoặc đọc được rồi thì có thấy hay không nhưng vẫn cứ mua. Việc mua cuốn này về rồi đặt lên giá sách cũng giống như thắp một nén nhang tưởng nhớ vậy thôi.

Còn cuốn trên cùng, là cuốn đặc biệt dùng để tặng bạn vợ, vì mai là ngày 20/10. Vì bạn vợ bảo, chưa nghe đến Gỗ Mun bao giờ, có lẽ bạn ấy nên bắt đầu đọc cuốn sách ấy bằng cách đọc bài này.

Thứ Sáu, 26 tháng 8, 2011

Đọc sách, như là "một thứ phân hữu cơ" cho tâm hồn

Đang đọc Sơn Nam, trích ra vài đoạn thấy thích:

"Viết tự sự, hồi ký gần như là tự mình mua ván, đem về đóng lần hồi cái quan tài cho chính mình, về tinh thần. Như con chim lượm lặt từng cọng rơm, cọng rác từ nơi xa xôi đem về đan cái ổ, kín đáo, trên cành cây nào đó. Nhưng biết đâu nhờ viết tự sự, hồi ký mà con người lại sống dai hơn, như con rắn hoặc con trăn lột lớp da già, chờ lớp da non hiện ra, mềm mại. Nhưng da là cái lớp bên ngoài, trong khi xương cốt gan ruột cứ từ từ khô héo."

"Tủn mủn, ganh tị vu vơ, vận dụng trí tuệ vào những việc đâu đâu, chẳng khác nào người chặt lóng tre, chẻ ra từng lát nhỏ, cứ chẻ nhỏ mãi, hy vọng chế tạo ra cây tăm xỉa răng độc đáo nhất thế giới, rồi tự hào mình đã hiểu thấu cây tre hơn ai hết. Cuộc sống là nhiều rừng tre bao la lộng gió, với tiếng reo của những ngọn tre bị uốn cong nhưng không gãy."

"Nhà tôi, sách khá nhiều, thêm sách về dân tộc học, mỹ thuật, lịch sử, tôn giáo, vân vân. Chồng chất đầy nhà, nhịn ăn mà mua. Để thấy người xưa và người đương thời đã làm những gì, làm tới đâu. Lắm khi, đọc thấy không ích lợi gì hết, đâu phải quyển nào cũng gợi âm vang ngay trong chuyện mình đang viết hoặc sắp sửa viết. Nhưng cần thiết, để củng cố bản lĩnh, tỉnh táo hơn. Sự ích lợi rất gián tiếp. Đó là thứ phân hữu cơ cần thiết. 

Tôi nhớ đến trường hợp những bức sơn mài. Trông đẹp, óng ánh, vì đã vẽ trên cái nền chuẩn bị châu đáo. Ván phơi nắng kỹ lưỡng rồi bọc hom vải, phủ sơn lần lượt, chờ đợi nhiều ngày với năm bảy lớp khác nhau để làm nền. Và sau rốt, lớp chót được lộng lẫy nhờ cái nền bên dưới, chẳng ai thấy."

Dạo chơi, ghi chép của Sơn Nam, Nxb Trẻ, 2003.

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Bánh mỳ nóng giòn

Sách Saharavn mới giao chiều nay:

1. Bộ sách bỏ túi Sài Gòn tản văn: Hẻm phố thông ra thế giới, Sài Gòn sau màn bụi, Ngon và nhớ.

2. Tản mạn trước đèn, Tuỳ bút Đỗ Chu

3. Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, Nguyễn Hiến Lê

4. Dạo chơi Tuổi già, Sơn Nam

5. Mộng đời bất tuyệt, Nguyễn Tường Bách.

Sách mới giao nhưng trừ mục 1 ra thì toàn là sách cũ, bán theo giá niêm yết từ cách đây 5-10 năm chưa kể giảm giá.

Cuốn số 5 là cuốn mua lại lần thứ 5. Bốn lần trước đã mua và đều lấy ra tặng, giờ mua lại để bổ sung vào bộ Nguyễn Tường Bách.-:)

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Out the Blue

1. Các bạn theo dõi blog của tôi có thể dễ dàng nhận ra một cái không khí chung trong các bài viết: nỗi buồn. 

Cho dù đó là một entry nói thẳng về nỗi buồn, hoặc viết về những vấn đề khác, thì vẫn vương vấn đâu đó một cái buồn man mác. Bản thân việc viết lách linh tinh thế này cũng là để che lấp những nỗi buồn. Đọc sách, rửa bát quét nhà, chơi bời với con cái, hay hút thuốc, uống rượu bia, thì cũng là những hoạt động để khoả lấp những những muộn phiền.

Tôi và những người xung quanh thường cho rằng tôi thích đọc sách. Mà quả là tôi có thích đọc thật. Và tôi mua sách cũng nhiều. Mặc dù vậy có một điều rất lạ là tôi rất ít khi được tặng sách. Tôi không hiểu tại sao? Tất nhiên không phải là tôi không biết cho đi, vì trên thực tế, trong cái cộng đồng của mình, tôi tặng và cho sách rất nhiều. Hầu hết, tôi đều chọn được những cuốn sách phù hợp để tặng cho những người bạn, người anh, em của mình. Nhưng nói nhiều về cái này thì lại lạc đề mất. Tôi đang nói về nỗi buồn và việc tôi mua sách. Ở trên tôi đang nói mình mua sách cũng nhiều, nhưng gần đây tôi chợt nhận ra, tôi thường mua nhiều sách nhất vào những thời kỳ buồn chán nhất. Tôi kiểm nghiệm lại và thấy gần như hai cái đồ thị về mức độ buồn và tốc độ mua sách là tương quan với nhau theo tỷ lệ thuận. Rõ ràng là, ở các thời kỳ buồn chán, tôi có lẽ đã mức chứng nghiện shopping, một triệu chứng thông thường của những kẻ bị stress nặng. Tôi chỉ khác các bà, các cô nghiện shopping ở một điểm, đó là thay vì chọn mua quần áo dầy dép mỹ phẩm, tôi đã chọn mua sách.

Những người điên thường hay lang thang. Những kẻ buồn chán cũng vậy. Những lúc buồn, tôi hay lang thang la cà khắp nơi, nhưng nhiều nhất vẫn là những hiệu sách. Nếu là ban đêm, tôi thường lang thang trên các nhà sách online, trước đây là Saharavn, sau này là Vinabook. Giờ ngồi nghĩ lại, tôi thấy rõ là những tiến bộ công nghệ, cái thứ công nghệ làm thay đổi hẳn khái niệm không gian và thời gian, cho phép người ta mua sách "anytime, anywhere", đã gián tiếp tiếp tay cho những con nghiện mua sắm bởi muộn phiền. Còn nếu là ban ngày, tôi lang thang trong thế giới thực, thường nhất, là mấy con phố Đinh Lễ, Nguyễn Xí, Tràng Tiền. Nếu một ngày nào đó, vào chiều muộn, bạn bắt gặp một gã lang thang một mình, đi ra từ một trong ba con phố trên, rồi ghé vào một quán cà phê nào đấy với một chồng sách trên tay, rồi ở đó, trong lúc đợi người ta phục vụ một ly nâu đá, gã bỏ chồng sách ra ngắm nghía rồi đọc lướt qua từng quyển một, thì đó rất có thể là tôi đấy.

Đây quả là một phát hiện buồn. Tôi tưởng là tôi thích đọc sách. Mọi người xung quanh cũng tưởng như vậy. Nhưng thực ra, giờ nghĩ lại, việc mua sách, đọc sách dường như chỉ là cái cớ, cái "phương tiện" bề ngoài. Cái mục đích chính, và là sự thật, vẫn là, thông qua việc mua và đọc sách, tôi đang trốn chạy hoặc lảng tránh nỗi buồn của chính mình. Việc này chẳng khác nào một gã trai thất tình nào đấy, vì kiêu hãnh, vì không muốn cho người tình của mình nhìn thấy mình trong sự thểu não ê chề, đã phải thốt lên rằng "I do my crying in the rain".

Thế đấy, cái sự đọc của tôi, cuối cùng không ngờ cũng lại chỉ như cái sự thể khóc trong mưa để giấu đi những giọt nước mắt của một gã trai thất tình.

Như vậy, nhìn vào cái giá sách cứ đầy lên hàng ngày của tôi, và cái việc nó đầy lên như thế đã kéo dài nhiều năm rồi, tôi nhận ra rằng nhiều năm qua tôi đã lê lết qua những nỗi buồn. Dường như tôi là một người buồn-bẩm-sinh, một người mang theo nỗi buồn từ tiền kiếp. Sự thật là ngay cả những lúc đông vui nhất, tôi vẫn không thể ngăn được những muộn phiền dâng lên trong ánh mắt. 

Nhưng còn có một sự thật khác, là chúng ta không thể dứt bỏ hẳn được những nỗi buồn. Vấn đề là chúng ta chọn sống với những nỗi buồn ấy như thế nào. Vì khi đọc sách tôi tìm thấy ở đó những niềm vui nho nhỏ, nho nhỏ thôi. Nhưng từng cái nho nhỏ ấy cũng đã lấn át được phần nào những nỗi buồn. Và vì vậy, tôi thấy lựa chọn sách để sống chung với nỗi buồn của mình là một lựa chọn phù hợp. Nó giống như một người bạn của Kurt Vonnegut đã nói và được ông dẫn lại trong cuốn Người không quê hương: nhạc Blues có thể không xua tan được nỗi buồn, nhưng nó có thể dồn chúng vào một góc, và vì vậy những người nô lệ da đen ngày xưa, những người "phát minh" ra nhạc Blues, thường xuyên chơi và nghe chúng, có thể yên tâm và ung dung sống cuộc đời của mình với ít muộn phiền nhất, hoặc ít ra thì cũng không bị chúng làm phiền. Ở một phương diện nào đó, thì đọc sách đối với tôi cũng giống như nhạc Blues có ý nghĩa như thế nào với người Mỹ da đen.

2. Trong tiếng Anh, từ "blue" vừa có nghĩa là màu xanh, lại vừa có nghĩa là nỗi buồn. Tôi học được điều này không phải từ giáo trình Anh văn, mà là trong lúc mày mò tìm hiểu ý nghĩa của bài "Love is Blue" từ một thời đã xa lắm. Vì vậy, trên cái blogspot của tôi, không chỉ có các bài viết mới phảng phất nỗi buồn, mà cả cái giao diện của nó cũng thế: tràn ngập một màu xanh. Hơn thế, cái giao diện cũ cũng vẫn có phần nào đó hơi diêm dúa, mà sự diêm dúa thì chưa bao giờ hợp với bản tính của tôi. 

Do vậy, để phần nào thoát ra khỏi cái nỗi buồn ám ảnh này, tôi đã thay cả giao diện blogspot bằng một template mới: đơn giản hơn, ít màu xanh hơn. Tôi gửi vào đó cái nguyện ước được viết nhiều về những niềm vui hơn là những nỗi buồn, và hơn thế, ngay cả khi đã vui hơn thì cái giá sách của tôi cũng không vì thế mà ngừng đầy lên, nhất là, nhất là, những cuốn sách trên đó không phải do tôi mua vì buồn chán, mà là được bạn bè anh em... cho, biếu, tặng. He he.

3. Out the Blue (John Lennon)

http://www.youtube.com/watch?v=YAxF7FTueNk

Out the blue you came to me
And blew away life's misery
Out the blue life's energy
Out the blue you came to me

Everyday I thank the Lord and Lady
For the way that you came to me
Anyway it had to be two minds one destiny

Out the blue you came to me
And blew away life's misery
Out the blue life's energy
Out the blue you came to me

All my life's been a long slow knife
I was born just to get to you
Anyway I survived long enough to make you my wife

Out the blue you came to me
And blew away life's misery
Out the blue life's energy
Out the blue you came to me

Like a U.F.O. you came to me
And blew away life's misery
Out the blue life's energy
Out the blue you came to me./.

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2011

Giữa Đất và Trời lửng lơ những câu hỏi

Giữa những nguyên tắc trong veo mà mình nuôi dưỡng trong đầu với thực tế trái ngược mà mình phải đương đầu trước mắt, có thể nào dung hoà được không trong hành động?

Giải quyết khúc mắc ấy như thế nào là tuỳ mỗi người, có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu câu trả lời.

Nhưng dù trả lời thế nào đi nữa, câu hỏi cũng gây nhức nhối trong tận xương tủy tuy bề ngoài vẫn phải phơn phớt nói cười.

Người hỏi là người đau với câu hỏi ấy, bởi vì đó là câu hỏi bi đát trong bản chất, nhất là đối với những người "dấn thân".

Trích "Giữa Đất và Trời", trong tập Khi tựa gối khi cúi đầu của Cao Huy Thuần, Nhã Nam và Nxb Văn Học, 8/2011.

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

Làm thế nào để nghe được tiếng chim hót và những câu chuyện khác

1. Umberto Eco có một tập truyện nhan đề: Làm thế nào để du lịch với một con cá hồi và những câu chuyện khác. Hôm qua ở Hội chợ sách, lượm được 2 cuốn: Mộng du và những truyện khác của Ngô Tự Lập, và Kiến đi đằng kiến và những truyện khác của Đỗ Phấn. Không hiểu hai bác này có tí nào ảnh hưởng từ Umberto Eco không nhỉ? Nếu có thì trong hai bác, bác nào bị ảnh hưởng trước, bác nào bị ảnh hưởng sau?

2. Hội chợ sách và sản phẩm giáo dục 2011 rất nhỏ, chỉ nằm gọn trong nhà A3 Triển lãm Giảng Võ, trong đó có một đến quá nửa là đồ chơi và đồ dùng học tập cho học sinh. Lại có chen cả cửa hàng quần áo trẻ em. Chắc tại quần áo cũng là một loại đồ dùng thiết yếu của các cháu khi đến trường. Nhỏ vậy nên chỉ đi chưa đầy một tiếng là hết. Mặc dù vậy cũng rất thích khi khuân về được vài cuốn rẻ như cho.
- Những người cùng thời (trích Hồi ký Con người, năm tháng, cuộc đời) của Ilia Erenbua, Vương Trí Nhàn tuyển chọn. Tôi rất thích cuốn này bởi các "Tag" sau: Nga-Xô Viết, Vương Trí Nhàn, Erenbua, Khổ nhỏ, Trịnh Cung vẽ bìa, và đặc biệt giá có 5.000 đồng. Sách in từ năm 2000 nhưng nhìn còn như mới. Có lẽ tôi sẽ để dành đọc trong một chuyến đi nào đó, cả sách và cách sắp chữ đều rất nhỏ và gọn gàng.
- Ý tưởng Nghề nghiệp của chị Việt Linh, đạo diễn, trích phát biểu của các nhân vật nổi tiếng trong giới điện ảnh. Sách của NXB Văn hoá Sài Gòn lúc nào cũng vậy, thiết kế và in ấn rất đẹp. Cuốn này 10.000 đồng.
- Cùng hạng 10.000 đồng tôi còn nhặt được 3 cuốn nữa. Những cô gái đã chết không bao giờ viết thư của Gail Giles. Cô này tôi chưa đọc bao giờ nhưng thích cái bìa và giá rẻ nên vẫn mua. Cuốn này của nhà Bách Việt. Một cuốn nữa cũng của Bách Việt là Trước, Trong và sau Cuộc tình, Jean-Marc Parisis. Chẳng biết mua cuốn này vì cái gì, có lẽ là muốn biết "vòng đời" của một cuộc tình dưới ngòi bút của một nhà văn thì nó ra sao chăng. Một cuốn nữa là Di sản của Eszter, tiểu thuyết của Márai Sándor. Cuốn này ra từ 2008 nhưng hồi đó tôi chưa quay lại đọc sách Văn học nên không biết. Hoá ra Bốn mùa, Trời và Đất không phải là tác phẩm đầu tiên của Márai Sándor mà Nhã Nam xuất bản. Cũng vì đã đọc qua Bốn mùa, Trời và Đất nên vừa nhìn thấy cái tên tác giả trên bìa là tôi đã nhặt ngay Di sản của Eszter mà không xem xét gì cả, về nhà tính sau.-:)
- Mộng du và những truyện khác của Ngô Tự Lập là bản bìa cứng, đóng rất đẹp, nhìn cứ như một cuốn luận văn được làm kỹ lưỡng. Giá chỉ 20.000 đồng. Ở hạng này tôi cũng may mắn kiếm được cuốn Mưa của S. Maugham. Tôi chưa đọc cụ này bao giờ nhưng nhiều người nhắc đến quá nên cũng mua luôn. Sách được làm theo đúng phong cách của nhà xuất bản Hội Nhà Văn: thô kệch, quê mùa, nhưng đổi lại được cái chất. He he.
- Hoá ra những cuốn đắt nhất mà tôi mua trong Hội chợ cũng mới chỉ đến mức 30.000 đồng. Một cuốn là Hồ Điệp của Vương Mông, nhà Nhã Nam liên kết với Nxb Công an Nhân dân. Trước đó tôi đã đọc Hồi ký của cụ (cũng là sản phẩm của nhà Nhã Nam) nên nhìn thấy là mua ngay. Cuốn thứ hai là tác phẩm đã rất quen thuộc của John Steinbeck: Chùm nho phẫn nộ. Cuốn này của Nxb Văn học. Cuốn sách hay, tốt, dày gần 850 trang mà giá chỉ có 30.000 đồng, chưa bằng 1/3 giá bìa. Người bán vừa tính tiền vừa lẩm bẩm ra vẻ tiếc nuối.

Đúng là lần đầu tiên tôi mua được những thứ Rẻ mà không Ôi. Thích.

3. Bất đắc dĩ lại có gần hai tuần ở nhà làm những việc rất lâu rồi không làm: rửa bát, quét nhà, phơi quần áo, nấu cơm, đưa đón con đi học. Cảm giác rất khó tả. Hôm nay có một ngày nắng to sau nhiều ngày mưa. Nắng chiều xiên qua những mái nhà tập thể, hắt lên những gốc cây và ghế đá trong sân một vẻ đẹp bình lặng. Từ trong nhà bước ra sân, chợt nghe thấy rất nhiều tiếng chim ríu rít, rộn ràng trên những tán cây. Nghe thấy tiếng chim mà lòng tự nhủ, ồ, mình vẫn còn sống.

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

Móng

Trời mưa, đọc lại hồi ức "Cô bé nhìn mưa" của bà Đặng Thị Hạnh:

"Trong ký ức của tôi, ông ngoại được nhớ kèm theo một chồng sách bìa màu tím xám có vẽ một cái cân, nhan đề "Nhân đạo quyền hành", sau này ba tôi nói với tôi rằng đó là cuốn sách triết học duy nhất có giá trị thời ấy. Tôi thường thấy ông tôi nằm sấp trên sập, hai chân co lên, đọc những cuốn sách chữ nho bằng giấy bản cao và hẹp mà ông tôi dùng ngón tay cái có móng dài cấu vào để giở ngược các trang."

Có lẽ Italo Calvino mới chỉ để ý đến "tư thế" mà chưa nói về chuyện móng tay của người đọc nên dài hay nên ngắn.

Hay là mình để móng tay dài nhỉ?

Bạn Tít

Bạn Tít năm nay lên lớp 2, là anh cả trong nhà. Cả Bố và Mẹ đều là con cả trong gia đình, mà các cụ đã nói rồi: Cả Đần, thành ra bạn Tít hưởng trọn vẹn cái "gene" ngố của bố mẹ. Lại thêm cái bạn Tít rất mê truyện Doreamon nên cũng có nhiều nét giống bạn Nobita.

#1. Bạn Tít bị đau mắt, phải đeo kính râm. Bố dặn bạn Tít phải đeo thường xuyên, không được tháo ra. Lúc nước mắt ra nhiều, mẹ đưa cho bạn Tít cái khăn bảo lau mắt, bạn Tít vui vẻ cầm khăn rồi lau ra... ngoài kính. Cả bố và mẹ trợn mắt nhìn nhau, còn bạn Tít thì thanh minh: tại bố cứ dặn không được tháo kính ra. 

#2. Bạn Tít lần đầu được đi dự một lễ Hầu đồng vì cả nhà đi hết, không biết gửi bạn Tít ở đâu. Vào đoạn cao trào, mẹ nhắc Tít để ý bà đồng. Tít không để ý cứ tập trung vào đọc Doraemon, còn bảo: Tít biết thừa rồi. Tít xem đĩa rồi. Tí nữa có đoạn vung tiền cơ, Tít chộp cho mẹ xem. -:)

Đến đoạn bà đồng phát lộc, Tít xông ra ngay, rồi xoè tay xin lộc. Được tiền bạn Tít hí hửng lắm, đếm đi đếm lại rồi đem về cho mẹ cất, rồi phán: Thế này thì sắp giàu to rồi. -:) Đúng là con nhà nghèo. Hí hí.

#3. Cũng trong buổi lễ trên, bạn Tít đọc hết Doraemon, chẳng còn gì đọc nữa nên quay ra đọc tạp chí Món Ngon mẹ mang theo. Chẳng hiểu thế nào mà bạn Tít vừa đọc vừa... liếm mép liên tục. Lại thật đúng là con nhà nghèo.

#4. Còn đây là chân dung bạn ấy, chụp cách đây bảy tháng. Bây giờ thì bạn ấy đã "trậng" một răng cửa rồi, và đang lung lay cái thứ hai. 

Chuyện xưa kết đi được chưa? He he.

Pictures Sent From PhotoPad by ZAGG

Bonus kỷ lục cuối ngày:

1. Cũng vì nhà cháu nghèo quá, lâu lâu mới lại được một bữa, nên tối nay cả nhà đã đồng tâm hiệp lực thanh toán hết gần ba chục chiếc... chân gà luộc. Hic.

2. Còn bố cháu thì sắp bổ sung vào bộ sưu tập gạch một viên gạch mới. Lần này là "gạch xỉ". Viên gạch ấy đây:

photo.JPG

Có vẻ như là chuyện xưa vẫn còn dài lắm, chưa kết được.

Thứ Năm, 7 tháng 7, 2011

Này thì mọt sách

Thấy bài này vui, chép lại hầu bà con.

Bản gốc trên Lao động Online.


Con mọt sách
06/07/2011 08:56:36 AM

(LĐ) - Hồi đầu những năm 70 thế kỷ XX, ở Hải Phòng có 2 người đàn bà nổi tiếng trong giới trí thức. Họ không viết văn, làm thơ, soạn nhạc hay cầm cọ vẽ, nhưng họ có quyền phân phát các tiểu thuyết lừng danh nhất, những tập thơ tuyệt vời nhất, các đĩa nhựa ghi 9 bản giao hưởng của Beethoven hoặc những kiệt tác (in lại) của các danh hoạ thuộc trường phái ấn tượng Pháp.

Họ là hai người bán sách tại cửa hàng sách trung tâm của Cty phát hành sách Hải Phòng. Một người bán sách ngoại văn, một người bán sách quốc văn. Họ được chiều nịnh, tôn vinh như hai bà hoàng (mà họ cũng kiêu và xinh đẹp thật!), vì người Hải Phòng rất mê đọc sách. Trừ loại lý luận - chính trị, kinh tế - khoa học, còn sách văn học thì được phân phối như áo may ô và dép nhựa Tiền Phong...
Trưởng phòng mới được quyền đọc “Bà Bovary”
Vì sách văn học là hàng mậu dịch phân phối, nên mua sách cũng phải có tiêu chuẩn. Phải là cấp từ trưởng phòng thuộc sở trở lên mới được mua cuốn “Bà Bovary” của văn hào Pháp Flaubert. Kẻ viết bài này một lần chứng kiến cuộc đối đầu âm thầm giữa ông lãnh đạo Cty phát hành sách Hải Phòng – một người giản dị, cục mịch như bức tường đất - với một cô gái dạng người não nhiều hơn ngực.
Không nao núng trước ánh mắt cầu xin của cô giáo trẻ dạy văn, ông đáp lại bằng cái nhìn thương hại nóng hổi và oai vệ phán như vị quan toà luận tội: “Phải ở vị trí như vậy, người ta mới đủ nhận thức để đánh giá được sự tha hoá đạo đức của tầng lớp thị dân tư sản!”. Thế nhưng, dù mới tốt nghiệp phổ thông, mặt vẫn mọc mụn trứng cá, tôi cũng mua được “Bà Bovary” vì có ông chú nguyên là giám đốc “Ba toa” (lò mổ gia súc Hải Phòng) viết cho cái giấy giới thiệu đi kèm nửa cân sườn lợn.

Một “con mọt sách” (ảnh minh hoạ). Ảnh: H.L.Q
Phàm đã là hàng phân phối bao giờ cũng hiếm. Chẳng hạn, một năm cả miền Bắc có trên dưới 40 đầu sách văn học xuất bản. “Hot” nhất hồi ấy là sách văn học nước ngoài. Chỉ những tác giả, tác phẩm được đánh giá là “rõ ràng” mới được tuyển dịch (mà dịch thì rất cẩn thận). Các bậc thầy của chủ nghĩa hiện sinh như Jean Paul Satre, Albert Camus... chỉ tồn tại trong những sách phê bình. Dostoievsky và B.Pasternax cũng không được dịch, mặc dù nguyên bản tiếng Nga thì tràn ngập các kệ sách.
Ngoài vài truyện ngắn của O’Henry và Jack London, người miền Bắc không được đọc “Chùm nho nổi giận” hay “Âm thanh và cuồng nộ” (của John Steinback và William Faulkner – các nhà văn Mỹ). Thậm chí họ đã phải xem “Những bức thư của người đàn bà không quen biết” (Stefan Zweig) qua bản chép tay! Sách hiếm như vậy, cho nên chỉ có những người mê sách như là mê gái mới chịu khổ nhục để được chạm tay vào cuốn “Đồi gió hú” thuộc dạng tài liệu tham khảo nội bộ!
Mỗi khi nghe tin đồn sách mới về, những con mọt sách lại chạy vội ra hiệu sách, hí hửng chầu chực như chú mèo ngồi chồm chỗm trước chảo cá rán đậy kín, vì sách quý thường bị giấu dưới quầy. Họ nhận ra rằng muốn mua được sách, tìm đường đi vào trái tim của người bán sách dễ hơn bằng giấy giới thiệu. Thế nên, trước hết phải thật ngọt ngào, cầu tài cô bán sách bằng nụ cười, nhưng phải là một nụ cười không để họ nghĩ bạn phải đến bác sĩ răng (hồi đó không có tệ hối lộ tiền). Đấy là nghi lễ dọn đường bắt buộc cho sự thành công, vì lễ ở phương Đông đóng vai trò như luật ở phương Tây.
Sau đó hãy tỏ ra thật đáng thương, dằn vặt hơn cả đau răng nếu như không mua được sách. Một con mọt sách thời đó, tôi nhớ anh ta gầy mỏng đến nỗi không biết cơ thể có đủ chỗ để chứa hết lục phủ ngũ tạng hay không, đã thành công trong hầu hết vụ “mua-ăn xin” sách, vì dai như con đỉa đói.
Trong nhiều gia đình, sách được bày ở nơi kín đáo nhất, vì nó được giữ như của gia bảo. Con mọt sách kỵ nhất là cho mượn sách. Sách là thứ hồi môn ảo sang trọng để các chàng trai đem đi hỏi vợ. Có bà mẹ vợ (bán vàng chợ Sắt) hãnh diện nói về gia đình thông gia: “Nhà bên ấy nghèo, thế nhưng anh ấy là người đọc sách!”. Và cô dâu mới đã cậy nhờ mua tặng chồng một đống sách để thể hiện trọng lượng tình yêu của mình. Họ trở thành một gia đình hạnh phúc hoàn hảo: Chồng đọc sách, vợ có tiền!
Sách được tôn trọng như vậy, cho nên thành phố đầy đường những người đọc sách, ngốn sách như bò ngốn cỏ. Thanh niên ngày nay đánh giá nhau bằng đi con xe nào. Thanh niên ngày ấy hỏi nhau đã xem “Bông hồng vàng” của Pautovsky hay “Cây phong non trùm khăn đỏ” của Aimatov chưa? Họ sẽ thất vọng khi đối tác chưa đọc qua “Hội chợ phù hoa”. Ngay cả trong lúc bom rơi đạn nổ, sách vẫn nằm trong balô theo người thành phố về những miền quê sơ tán. Người ta vẫn đọc “Chiến tranh và hoà bình” dưới hầm trú ẩn, trong ánh đèn dầu phòng không.
Nghịch lý của sách
Năm 1975 - một cánh cửa mới của sách được mở. Trong đám những người miền Bắc vào Nam trở về với chiếc balô lủng lẳng cái khung xe đạp, đài bán dẫn, búpbê nhựa, có những người đi tìm sách. Họ kinh hoàng khi bắt gặp cảnh tượng sách được bày bán, được chồng đống từ mặt đất lên nóc nhà trên suốt con đường Calmette, Sài Gòn.
Không cần là cấp trưởng phòng, hay nở nụ cười cầu tài với cô bán sách, chỉ cần có tiền là mua được cả kho tàng thông tin đồ sộ của cả loài người, từ Thánh kinh đến “Tài liệu mật của Lầu Năm góc” được tiết lộ trên tờ New York Times, từ các tác giả đoạt giải văn chương Nobel đến những đại diện của mọi trường phái tư tưởng... Có vị đại uý công binh (tốt nghiệp Đại học GTVT miền Bắc) khi rút ra khỏi thành cổ Quảng Trị (năm 1971) đã liều chết cõng theo mình 60kg bộ “Đại từ điển Britania” trong một ngôi nhà cháy dở và gặp ở đây (chợ sách Calmette) gần một chục bộ tương tự.
Lần đầu tiên họ được đọc “Mật khải” của K.Gilbran, “Zarathustra đã nói như thế” của Nietzche, “Thiền và phân tâm zuki của Fromm, những cuốn sách học” của Suzuki và Fromm, các cuốn sách không chỉ mở cho họ thấy những chân trời thế giới mới, mà còn được in rất đẹp trên các trang giấy mịn và thơm như làn da trẻ thơ. Bây giờ họ không kháo nhau về “Cây phong non trùm khăn đỏ” nữa, mà hỏi nhau đã được đọc “Bác sĩ Zhivago” hay “Giờ thứ 25” chưa. Những tưởng bắt đầu thời đại của sách, một con mọt sách hí hửng nói chơi: “Loài người chỉ còn 3 loại: Những người sống, những người chết và những người đọc sách!”.
Thế nhưng, cánh cửa đổi mới càng mở, càng nhiều sách thì người đọc càng ít. Hoá ra cùng với sách vở, người ta còn phát hiện ra vô số niềm vui trần tục, mà trong chiến tranh chúng là vô nghĩa so với cuộc sống – cái chết: Ẩm thực, thời trang, du lịch, những môn thể thao mới mẻ như golf, tennis... Tất cả đều lên tiếng đòi “thị phần” của mình trong khoảng thời gian bất biến 24 giờ/ngày của đời người.
Đấy là chưa kể khát vọng làm giàu dâng cao ngùn ngụt, chúng nuốt chửng bao thời gian. Đặc biệt khi Internet xuất hiện, đổ thông tin vào đầu người với tốc độ gần bằng ánh sáng, thì sách tuột sâu ra khỏi vị trí thống trị tư tưởng con người. Sách không còn là tấm gương duy nhất quan trọng để con người soi vào đấy thấy thế giới, thấy chính mình. Đã thế, khi sách nhiều quá tràn ra vỉa hè, văn chương sọt rác xuất hiện trở thành sữa mẹ của một tầng lớp thanh niên, truyện tranh lên ngôi, truyện dịch ẩu như là “diệt”.
Khi con người đổ xô đi đào vàng, đồng đôla được tôn vinh thành giấy thông hành lên trời, thì những con mọt sách biến mất dần khỏi mặt đất như những chiếc cối xay gió của thế kỷ XVIII. Từ “con mọt sách” trở thành đồng nghĩa với “hâm”. Bà bán hàng vàng chợ Sắt bắt đầu sốt ruột hộ cô con gái và thấy tiếc thằng vai u thịt bắp hàng xóm ngày xưa nay là chủ hai mỏ than ở ngoài Quảng Ninh.
Vắng khách dập dìu, những cô bán sách bắt đầu già và xấu đi. Họ ngồi suốt ngày tỉa lại lông mày trong các nhà sách yên tĩnh như hồ nước của ngày hè nóng nực. Ông giám đốc mới của Cty phát hành sách Hải Phòng lặn lội vào Nam đi tìm mối hàng văn hoá phẩm, văn phòng phẩm để lấp đầy các kệ sách. Chỗ ngày xưa Hemingway và Remarque (nhà văn Đức) “ngồi”, thì nay chễm chệ những chiếc đồng hồ điện tử Nhật Bản, băng keo và tả pí lù. Từ đó, những cô bán sách đời mới bắt đầu giàu lên. Họ hỏi Remarque có phải là tiền Đức không?
Không thể võ đoán nói rằng ngày nay người ta đâm chém nhau nhiều vì không đọc sách. Nhưng rõ ràng rằng vắng sách, tâm hồn con người sẽ nghèo nàn, nhạt nhẽo đi, đầu óc con người sẽ thiếu đi sự sâu sắc vì văn hoá mạng là một thứ mì ăn liền. Chừng nào loài người còn sống, còn tồn tại sách. Những con mọt sách sẽ sống lại và phát triển, bởi đọc sách là nhu cầu tinh thần và niềm vui cao quý.
Hà Linh Quân

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2011

Quảng cáo cho bác Phan Cẩm Thượng

Hoạ sỹ Paul Gauguin trong một tácphẩm vẽ ở Tahiti có lấy chủ đề: Chúng ta làai? Chúng ta từ đâu ra? Chúng ta đi về đâu?. Đó là những câu hỏi lớn mà bất cứdân tộc nào, cá nhân nào cũng phải tự hỏi và tự giải đáp cho mình. Viết vànghiên cứu lịch sử là cách lý giải những câu hỏi đó, tuy nhiên người ta đã quanniệm lịch sử rất hẹp hòi, như là lịch sử chính trị, lịch sử chiến trận hay lịchsử của các triều đại thống trị, mà quên mất con người đã từng tồn tại bằng rấtnhiều phương diện khác. Lịch sử nghệ thuật cũng là một con đường lớn, mà chínhmột thế chế, một thời đại qua đi, nó trở thành nhân chứng duy nhất (như Kim tựtháp Ai Cập). Đồ vật và sinh hoạt ngày thường cho mãi đến gần đây mới là đốitượng bổ xung cho nghiên cứu lịch sử. Ăn ở của con người như thế nào nói lênđược nhiều điều mà lịch sử to tát của các vương triều không lý giải thỏa đáng.Tôi bắt đầu hình thành cuốn Văn minh vậtchất của người Việt sau một thời gian dài nghiên cứu nghệ thuật thuần tuý,khi thấy bên cạnh những kiến trúc tranh tượng còn có những vật dụng thôngthường mà qua đó có thể hiểu được bước đi của dân tộc. Xem những bảo tàng dântộc học và lịch sử tự nhiên đem lại những gợi ý khác và nhất là những cuốn sáchmà trước đây ông Thái Bá Vân từng nhắc tôi nên đọc như: Đời sống hàng ngày của người Hy Lạp, La Mã. Cuốn Cấutrúc vật chất trong đời sống thường ngày (The Structures of EverydayLife) của ông Fernand Baudel (1902 - 1985) đã đem cho tôi những gợiý sâu sắc về phương pháp luận, để từ một mặt rất thông thường của đời sống, nhưngựa xe, lương thực mà hiểu lịch sử và con người đã như thế nào trong lịch sử.

Sự phát triển của cái bát là điềuđầu tiên và rất cụ thể mà tôi chú ý đến. Từ chỗ con người ăn bốc, chụm hai bàntay vào hụm nước, bổ đôi hoa quả, cái bát hình thành như một đồ đựng quan trọngvà biến thiên lúc thì như cái thuyền (bát thuyền) lúc thì như bông hoa sen, hoasúng (bát Lý Trần), rồi lại như thân hình thắt eo của người phụ nữ (bát chiếtyêu). Rồi từ đây tất cả đồ vật bỗng trở thành quan trọng để nhìn nhận đời sốngtrong quá khứ. Tôi băn khoăn cái rìu, cái cuốc, cái cầy và bánh xe đã ra đời vàthay đổi như thế nào, khi nào thì người Việt bước vào nền nông nghiệp, thay vìsăn bắn hái lượm trong kinh tế tự nhiên. Mọi thứ đã hiện lên sinh động. Tất cảcông cụ lao động và đồ vật, giống má không có sẵn, không có đồng thời cùng mộtlúc, chúng hình thành dần dần trong lịch sử và thay đổi theo thói quen canhtác, theo địa lý, và dẫn đến các tập tục văn hoá. Đê đến thế kỷ 11 mới đắp, nềnnông nghiệp quy mô mới chính thức bắt đầu. Vì kèo gỗ mới tìm thấy sớm nhất ởthế kỷ 13, chè Lam thế kỷ 15 mới có, thuốc lá năm 1660 mới chính thức được hút,xu hào, cà chua, bắp cải, súp lơ thế kỷ 17 mới được đưa vào Việt Nam theo nhữngthương thuyền châu Âu, phở thì đầu cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20 mới  có, chiếc áo dài tân thời mới được cải tiếnnăm 1930. Từng thứ từng thứ có nguồn gốc, có ngày sinh tháng đẻ, lịch sử khôngphải là truyền thuyết, không có sẵn từ đầu tất cả mọi thứ. Nhìn sang phương Tâycũng như vậy thôi, thế kỷ 18, ở thành Parishàng ngày có đến 20 ngàn người đổ thùng và xe nước cho các thị dân, những ngườinghèo thì ra đầu các cống thải tắm giặt. Do thuốc ho lao chưa có nên các côngnương xinh đẹp rất ít tắm vì sợ sưng phổi. Ở ta cũng vậy, có thời nhà nôngkhông ăn bữa tối, bữa cơm hàng ngày không biết đến thịt là gì. Lúa Chiêm chưađược biết đến ở thế kỷ 2 ở Bắc bộ và cây lúa nương đóng vai trò chính trong cấytrồng lúc đó.

Văn minh bắt đầu từ cái rìu mộtthứ vũ khí kiêm công cụ và cái này đẫy rẫy trong văn hoá Đông Sơn, tiếp sau làcái cuốc một công cụ có tính thế giới ở mọi dân tộc sơ khai, cuối cùng là cáicầy do gia súc kéo. Đến cái cầy chưa hẳn là nền nông nghiệp và nông dân đã hìnhthành, còn phải có một thứ nữa là vụ mùa, thuần dưỡng chăn thả và quần cư làngmạc. Từ đây con người bước vào giai đoạn suy thoái hay phát triển người ta cònphải tranh luận, vì nông nghiệp làm mất hẳn kinh tế tự nhiên, suy thoái hàngloạt giống má trong tự nhiên và con người phụ thuộc một cách bấp bênh vào vụmùa, lại do mưa nắng quyết định. Song chính nền nông nghiệp đã dẫn đến sự hìnhthành của nhiều quốc gia. Ở lưu vực sông Mê Kông, cây lúa nước có nguồn gốc từvài giống lúa từ Tây Tạng đã tạo ra các vựa lúa lớn và dẫn đến các quốc gia cácnền văn hoá đặc sắc. Đó là Nam Chiếu, Đại Lý ở nam Trung Hoa, Burma (Myanma)với nền nghệ thuật Pagan, Lào và Siem với Luang Phabang và Sukhothai, Phù Namvà Camphuchia với Angko, rồi ngược lên trung bộ Việt Nam là Champa với Mỹ Sơn,trong khoảng thời gian từ đầu công nguyên đến thế kỷ 7. Vựa lúa sông Hồng, sôngThái Bình và sông Mã được hình thành theo cách khác dẫn đến quốc gia Đại Việtmuộn hơn mặc dù lịch sử của người Việt cũng lâu dài.



Khi đê chưa được đắp các thửaruộng có thể cấy trồng vào mùa khô với chất đất khá xốp. Cái lưỡi cầy Đông Sơncho thấy nó được bố trí nằm gần như bằng với mặt đất. Khi nước sông không cònvào được ruộng nữa, đất trở nên rắn và cái lưỡi cầy buộc phải nằm nghiêng. Cầychìa vôi ra đời trong khi đó người Trung Hoa vẫn cầy bằng cái cầy có guốc cầylà trên mặt ruộng. Cái này người Hán gọi là sàngcầy hay để (đáy) cầy. Người Nhật thì dùng cả hai loại gọilà vô sàng lê (cầy không guốc - giốngcầy chìa vôi ta) và hữu sàng lê (cầycó guốc - giống cầy Hán). Cái sàng cầy lại được làm theo 3 kiểu ngắn, vừa vàdài, tuỳ theo địa hình. Người Champa thì lại học lối cầy Ấn Độ, có cái cầynương mũi quặp xuống như mỏ chim, và cầy ruộng nước như cầy Việt. Tuy nhiên cầyChampa khá nặng và to phù hợp với hai bò kéo. Sự ảnh hưởng của văn hóa TrungHoa và Ấn Độ không chỉ trên các bình diện tinh thần mà ngay ở canh tác nôngnghiệp, người Việt tiếp nhận được cả giống lúa Chiêm từ phương Nam, giống lúanương sau chuyển thành cây lúa mùa từ phương Bắc và rất nhiều loại hình công cụtừ hai phía, bên cạnh đồ dùng, binh khí, nhạc cụ, y phục thì cũng có hai xuhướng như vậy, trong đó sắc thái Nam Á là chủ đạo và là huyết mạch trong vănminh vật chất của người Việt, đặc biệt là đời sống dân gian thường nhật, cònvua chúa quý tộc lại đam mê những kiểu cách Trung Hoa.

Sông nước và con thuyền gắn bóvới người Đông Sơn sau đó là người Việt từ thời thượng cổ với con thuyền độcmộc ban đầu, khi sống thì con thuyền là nhà, khi chết thì con thuyền là mồ. Đâychính là điểm khác nhau giữa văn hóa Việt - Mường khi con thuyền không mấy ýnghĩa với người Mường, mặt còn lại người Việt và người Mường chung nhau rấtnhiều điểm, về ngôn ngữ, lối ăn gói lá và đồ, lối quấn vải làm khăn, áo ngực vàváy, cách thức canh tác và chế tạo nông cụ. Dấu ấn con thuyền trở thành hìnhtượng trên mái đình làng và thủy binh cũng là một thành phần mạnh trong quânđội phong kiến. Cái xe ít được nhắc đến và có vẻ rất thô sơ cho đến tận đầu thếkỷ 20, người Việt chưa bao giờ chế tạo được cái xe ngựa chạy tốc độ cả. Tấtnhiên xe trâu bò kéo, xe cút kít đẩy tay cũng được dùng phổ biến và chủ yếu làchuyên chở nặng. Xe ngựa và kỵ binh trong quân đội phong kiến rất kém và hầunhư không được dùng trong chiến trận.

Sự ra đời của cái bánh xe đượccoi như là mốc phát triển quan trọng của loài người. Có người cho rằng cái bánhxe hình thành từ cái cối đá cổ xưa, hay bàn nghiền, con lăn… đều lấy nguyên lýquay tròn làm chuyển động. Với người Ấn Độ bánh xe - pháp luân có nguồn gốc từmặt trời và thể hiện sự bất tận của cuộc sống. Trong văn minh Ai Cập và TrungHoa, bánh xe và xe ra đời khá sớm, có lẽ đến hai ngàn năm trước Công nguyên,sau đó đến cỗ xe Hy Lạp nổi tiếng trong lịch sử chiến trận chừng 500 năm trướcCông nguyên. Từ bánh xe có nhiều quan hệ với guồng nước, cối xay nước, cối xaygạo, cối ép mía… mà người Trung Hoa đều gọi là Xa cả, tức là chuyển động của một đồ vật dựa trên nguyên lý quaytròn. Cái xe trong văn minh Việt không đóng vai trò lớn, ngay cả trong quân độiCho đến đầu thế kỷ 20, nông dân vẫn dùng chủ yếu là xe trâu kéo thô sơ, bánh làmột phiến gỗ đặc và xe cút kít gỗ một bánh di chuyển rất chậm, chuyên chở cũngkhông nhiều.

Từng thứ từng thứ, gây cho tôi sựtò mò vô hạn về xuất xứ, công năng và sự thay đổi của nó theo thời gian, sự sửdụng, mỗi đồ vật đều có khả năng nói lên con người sử dụng nó như thế nào, thờibuổi sinh ra nó ra sao. Đó chính là cánh cửa mở ra cái nhìn lịch sử theo mộtcách khác không sách vở. Khi bắt tay viết, tôi mới thấy mình chạm vào một lĩnhvực quá sức, làm sao một cá nhân có thể biết hết được những gì dân tộc trảiqua, tôi bèn xác định những công cụ và đồ vật chính, đối chiếu nó với những đồvật trong các nền văn minh tương tự có liên quan với xã hội nông nghiệp cổ ViệtNam, từ đó gắng lần ra sợi dây xuyên suốt sự phát triển, ví dụ như từ cục đásinh ra cái rìu, con dao, cái đục, cái búa. Khi đụng chạm vào một thế giới mênhmông như vậy, nhiều khi tôi cảm thấy có một người nào đó rất cổ xưa đọc chomình chép, cứ thế cứ thế, liên tục qua đêm này đêm khác, và tôi cũng nhanhchóng hình thành xong cuốn sách vài trăm trang. Công việc song song là nhờ mộtbạn trẻ đi chụp ảnh minh họa và tự mình đến những nơi có đồ vật vẽ lại. Riênghơn 1500 minh họa ảnh và tư liệu cũ, hình vẽ, bản thân nó cũng là một công việckhông nhỏ và tốn kém, kéo dài trong suốt sáu năm qua. Bao nhiêu câu chuyện vềđời sống quá khứ và ngay hiện tại khi chúng tôi đi làm sách cũng đáng để viết ra và tôi xin tặng cuốn sách này cho các bạn trẻ khi muốn tìm hiểu xem cha ôngđã ăn mặc, làm lụng, khai nền mở đất như thế nào. Mỗi vùng các bạn sống đều cónhững đồ vật nhất định, những tập tục bản nguyên và các bạn có thể viết thêmvào cuốn sách những gì tôi chưa biết, coi đó như là một công việc chưa kết thúccần viết tiếp.

PhanCẩm Thuợng
2011

 *Các hình ảnh trong bài trích từ sách Văn minhvật chất của người Việt.

Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010

Kiêng khem - Márai Sándor

Không nên quay về những căn phòng cũ, dù ta đã từng hạnh phúc hay bất hạnh trong những căn phòng ấy. Không nên gặp lại những người xưa mà cách đây mười hay hai mươi năm, ở một thời điểm trưởng thành nào đó, chúng ta đã từ biệt họ. Hãy lịch sự trả lời thư bạn cũ, nhưng đừng hẹn gặp, nhất là bạn gái cũ thì càng không nên. Không nên tới đám ma. Không được để mình bị lôi cuốn vào những rắc rối của những cuộc đời xa lạ mà xét cho cùng mình chẳng hề có liên quan gì. Không nên nhìn lại những gì đã qua.

Nhưng tất cả điều đó không có nghĩa là sự không thuỷ chung, cũng không phải sự lãnh cảm với con người. Đó chỉ là sự kiêng khem, không là gì khác. Tâm hồn cũng không chịu nổi đồ ăn đã hư hỏng, thối rữa; hãy nuôi dưỡng tâm hồn bằng vitamin, những hương vị mới, tươi mát. Hãy yêu con người, nhưng hãy chú ý và thận trọng với những sự vụ đáng ngờ của họ. Hãy thương họ, nhưng phải nghĩ rằng nước mắt bạn là dành để nhỏ xuống cho số mệnh người thân yêu của bạn. Hãy thân thiện với thế giới, nhưng hãy biết rằng bạn không thể thay đổi những quy luật của nó - thế giới là vô vọng - và đừng hòa nhập vào đám tang của sự lo âu và than vãn. Hãy biết kiêng khem cho cả thể xác và tinh thần, không phải để kéo dài cuộc sống, cuộc sống không thể đo bằng thời gian. Hãy kiêng khem để có thể sống nhiều hơn và sống thực hơn. Hãy gìn giữ thứ gia vị của đời sống, và đừng ăn quá nhiều gia vị.

Thứ Tư, 27 tháng 5, 2009

Bài thơ về một chốn thân quen


Những quán nước chè

Hà Nội
Những quán nước chè vỉa hè
Đã có mắt nhìn như những mụn cóc

Cạnh cà phê máy lạnh cửa gương ba mươi nghìn một cốc
Quán nước chè
Mùi điếu cày hăng hăng
Chén da lươn nghi ngút hương chè Thái Nguyên
Những tờ một nghìn nhầu nát
Khách qua đường lạ quen
Ngồi đồng hay ghé vào chốc lát.

Quán nước chè
Bà chủ quán ghi số đề
Thông tấn xã vỉa hè
Râm ran chuyện đổi tiền trước khi Nhà nước thông báo chính thức
Xả van ngôn ngữ đặc sản Hà thành lan truyền khắp nước
Người dân nghiện luận bàn thế sự Đông Tây
Bí sử thâm cung vanh vách
Bác xích lô làm ngạc nhiên cả giáo sư uyên bác.

Nhà sử học mộng du văn hoá vỉa hè
Thời hoà nhập nhưng quyết không hoà tan bản sắc
Văn hoá vỉa hè
Cổ như phố cổ.

Rầm rộ những đợt ra quân
Tự vệ, công an dọn dẹp lòng lề đường
Buôn gánh bán bưng
Và những quán nước chè
Cứ như chưa bao giờ bị xua đuổi.

Thủ đô mình đã rộng nhất thế giới
Thôi thì cứ vui đi, cứ mơ ngày tráng lệ nguy nga
Nhưng bây giờ, ngay bây giờ, biết còn đến ngày xa
Dọc những con phố, bến tàu, bến xe
Những quán nước chè…

--------------

Hà Nội, 5/2009

Vũ Duy Chu

Q: Xa Hà Nội nhớ nhất cái gì? 

A: Những quán nước chè vỉa hè.

Lãng du qua những quán cóc vỉa hè. Muà hè trà đá, mùa đông trà nóng.

Thân quen quá. Somewhere, out there.













Thứ Ba, 26 tháng 5, 2009

Ba ơi, mình đi đâu?

Đó là tên một cuốn sách mình mới mua.

Tác giả cuốn sách, Jean-Louis Fournier, là một cái tên mới toanh đối với mình, nhưng mình đã quyết định phải mua nó ngay khi đọc xong trang thứ hai. Nó là một cuốn sách phải có trên tủ sách nhà mình. Mình quyết định như vậy không phải do nó được quảng cáo là đã đoạt giải Fémina 2008 của Pháp, mình vốn dĩ không chạy theo quảng cáo và quả thật cũng chẳng biết cái giải Fémina đó nó giá trị cỡ nào, mà chính là nhờ những gì đã được đọc ở hai trang đầu tiên đó, nó xúc động đến tận tâm can.

Đó cũng là câu hỏi duy nhất mà Thomas-đứa con trai 10 tuổi của Fournier- có thể hỏi được, một cách “không ngừng nghỉ”, “không nản chí”(*). Nó là một đứa trẻ tật nguyền, cả về thể xác và tinh thần.

Người ta giới thiệu Fournier là một nhà văn bậc thầy về trào phúng, đồng thời kiêm đạo diễn truyền hình của nước Pháp. Như thế có nghĩa ông là một người mang đến niềm vui, hạnh phúc cho nhiều người khác. Nhưng số phận trớ trêu đã sắp đặt cho ông một cuộc sống với nhiều bất hạnh – và là một trong những bất hạnh lớn nhất của đời người: Không chỉ có Thomas, cả người con trai thứ hai của ông, Mathieu, cũng bị tật nguyền bẩm sinh. “Một đứa con tật nguyền, rồi hai đứa”, để rồi ông phải hỏi, “tại sao không là ba?”. Đối với Fournier, ông đã có tới “hai ngày tận thế”.

Cuốn sách này Fournier viết cho hai cậu con trai tật nguyền của chính ông, mặc dù vào thời điểm viết cuốn sách, “Mathieu đã ra đi kiếm tìm quả bóng của mình ở một nơi mà người ta không thể giúp thằng bé lấy lại nó được nữa” và “Thomas, dù vẫn hiện diện trên trái đất, nhưng tâm hồn đã ngày càng phiêu du giữa những đám mây”. 

Đọc cuốn sách, mình thấy trong đó có đủ cả “hỉ, nộ, ái, ố” xung quanh một thế giới của tật nguyền, của nỗi đau, của day dứt và thất vọng. Với khả năng trào phúng bậc thầy, lối viết dung dị của Fournier đã khiến mình cười trên nỗi đau, suy ngẫm về nó nhưng không bi lụy. Có lẽ, ông đã đi tới tận cùng của nỗi đau, và ở đó, nói một cách triết học, như The Beatles đã từng hát, “pain would lead to pleasure”(**), ông đã thắp lên cho người đọc một niềm vui sống căn bản, dù mong manh nhưng không bao giờ lụi tắt.

Cuốn sách một lần nữa củng cố cho mình niềm tin rằng mình đang sở hữu những thứ quý giá đến nhường nào. Mặc dù Tít&Tí có nhiều lúc ốm đau, mặc dù chúng có nhiều trò quậy phá khiến mình phát điên, nhưng những cái đó chẳng đáng gì so với những điều mà một ông bố như Fournier đã phải trải qua.

Để chứng tỏ mình đang được hạnh phúc đến nhường nào, mình đã định trưng lên ở đây một cái ảnh của Tít&Tí chụp chung, nhưng ý định đó nhanh chóng bị loại bỏ. Mình đã quyết định không làm thế, bởi nếu làm vậy là mình đã có lỗi với Fournier.

(*) Những chữ in nghiêng là trích trong cuốn sách.

(**) Trong bài Girls, John Lennon sáng tác & hát chính. Không hiểu sao mình thấy câu này rất hợp với hoàn cảnh của bài viết này, mặc dù trong ngữ cảnh của bài hát, nó hoàn toàn mang một ý nghĩa khác.

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2009

Đoàn Minh Phượng

Có lẽ nên bắt đầu với Đoàn Minh Phượng bằng tản văn này: Tại sao tôi đọc tiểu thuyết. Có một đoạn rất hay, trích ra post lại ở đây:


Ngôn ngữ của chúng ta có một giới từ rất thông dụng là từ “để”. Học bài để thi đậu, đi làm để kiếm tiền, giao tiếp xã hội để có người quen mà nhờ vả, đi du lịch để mở mang kiến thức, nghe bài Cô Thắm về làng để thư giãn. Tôi nghĩ rằng gắn được vế sau của mỗi câu ở phía sau chữ “để” cho mỗi việc tôi làm là tôi có được mục đích lớn của cuộc đời: nó là tổng số của những mục đích nhỏ xíu và nhỏ vừa, mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm.
Cho đến một hôm, một người bạn cho rằng tôi không biết sống trong hiện tại. Tôi sống, cùng lắm, chỉ được một nửa. Tôi nói: “Sống mới một nửa mà đã quá khó, sống trọn làm sao làm nổi?” Người bạn hỏi tôi: “Đứng một chân và đứng hai chân, cái nào khó hơn?”
Tôi về nghĩ lại.
Cuộc sống tôi là một chuỗi hoạt động đuổi theo những mục đích ở phía trước. Cuộc đời xảy ra vào ngày mai. Không bao giờ có hôm nay. Không bao giờ có sự ung dung trong hiện tại. Hình như lúc nào tôi cũng đang cố giữ thăng bằng, tôi như người đứng một chân thật.
.............
Để sống trọn vẹn hơn, theo người bạn học thiền của tôi, khi nói câu nào chỉ cần bỏ đi chữ “để” và cái vế đi sau đó. Đọc sách chứ không phải đọc sách để tích tụ kiến thức cho ngày mai. Nhìn trăng chứ không phải nhìn trăng để tâm hồn thư giãn. Để tâm hồn thư giãn không có gì sai, nhưng nó giới hạn sự nhìn trăng, cũng như đi tìm kiến thức trong một quyển sách loại bỏ những thứ khác trong quyển sách đó không được định nghĩa là kiến thức.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2009

Sách mới của George Soros

Trên ĐT37B blog đã nhắc nhiều đến Warren Buffet. Tuy nhiên, chỉ nói về W. Buffet mà không nói đến George Soros thì quả thật là không công bằng. Từ lâu tôi đã định bụng phải kiếm một bài về bác này copy lên ĐT37B nhưng chưa làm được thì vừa hay, sách mới nhất của bác đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Phải nói là dân làm sách ở Việt Nam bây giờ nhanh nhạy khủng khiếp. Cuốn sách có tên: “Mô thức mới cho thị trường tài chính-Cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2008 và ý nghĩa của nó”, tên tiếng Anh là: “The New Paradigm for Financial Markets: the Credit Crisis of 2008 and What It Means”. “Ý nghĩa của nó” là gì thì chưa biết, nhưng việc dịch và xuất bản cuốn sách vào thời điểm mà cuộc khủng hoảng đang diễn ra thực sự rõ ràng là một việc rất có ý nghĩa, chắc chắn cả trên phương diện lý luận và kiếm tiền.

Bản thân cái tên George Soros đã là một thương hiệu mà khi gắn lên bất kỳ cuốn sách nào cũng đã đảm bảo cho nó bán chạy. Chính vì vậy mà trên bìa sách, cái tên đó đã được trang trọng đặt vào chính giữa, khổ chữ to gấp bốn lần so với tên sách và đập ngay vào mắt người đọc.

Mặc dù vậy, đơn vị làm sách là Nxb Tri Thức cũng đã rất cẩn thận với một kế họach PR chu đáo cho cuốn sách, bắt đầu bằng các bài báo “lờ mờ” nói về khả năng cuốn sách sẽ được xuất bản. Nặng ký nhất là bài giới thiệu này, lôi hẳn Huỳnh Bửu Sơn vào cuộc. Để ý rằng Huỳnh Bửu Sơn là một trong những chuyên gia sừng sỏ về tài chính ngân hàng của miền nam Việt Nam trước năm 1975, cũng là người giữ tay hòm chìa khoá của “kho vàng 16 tấn” nổi tiếng, vốn bị đồn thổi là tổng thống Thiệu đã bí mật tẩu tán trước khi rời VN, để sau này bàn giao cho chính quyền giải phóng, và cũng là người, cùng với ông Phan Chánh Dưỡng, đã “khăn gói quả mướp” từ Sài Gòn ra Hà Nội để tư vấn cho cố thủ tướng Võ Văn Kiệt (hồi đó là Phó chủ tịch HĐBT) về các vấn đề giá-lương-tiền trong những năm 87 và sau này là Pháp lệnh Ngân hàng. Nhờ một người như vậy để nói về cuốn sách thì có thể thấy các chuyên gia PR giỏi nhất cũng chỉ khéo đến như vậy là cùng.

Để ý thêm, cuốn sách về tài chính lại được hiệu đính bởi Bùi Văn Nam Sơn – một nhà nghiên cứu triết học nổi tiếng, đã dịch và chú giải rất nhiều tác phẩm triết học kinh điển của Kant, Hegel,... Tại sao vậy? Số là cuốn sách này đã dùng toàn bộ phần đầu tiên để nói về “lý thuyết phản hồi” – một lý thuyết do chính George Soros phát triển và mang nhiều hơi hướng... “triết học”, “vượt ra khỏi thị trường tài chính”, vốn được ông nghiên cứu từ thời còn là sinh viên của London School of Economics và đã trở thành kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động đầu tư tài chính của ông sau này, cũng như trong hầu hết các tác phẩm mà Soros đã xuất bản. Soros có vẻ rất “tự hào” với thuyết này, và một trong những mục tiêu chính của cuốn sách cũng là để chứng minh rằng, cuối cùng thì thuyết của ông đã đúng, vì trước đó “giới hàn lâm đã không coi thuyết phản hồi là nghiêm túc”. Tuy nhiên, đúng như những gì ông đã tự nhận trong lời giới thiệu cho cuốn sách: “Những người chỉ quan tâm tới cuộc khủng hoảng hiện tại sẽ thấy phần này khó đọc, những người chịu khó đọc tiếp thì tôi hy vọng sẽ thấy việc làm thế là bõ công”, việc đọc phần đầu của cuốn sách có vẻ hơi... chuối. Chính vì vậy mà mặc dù đã có bản soft copy bằng tiếng Anh của cuốn sách này từ lâu, tôi vẫn không thể “gặm” nổi để rồi sau đó đã rất hào hứng khi nghe tin Tri Thức xuất bản cuốn này bằng tiếng Việt (Đến nỗi, ngay khi nghe tin này tôi đã phải viết email cho nxb Tri Thức hỏi khi nào và ở đâu tôi có thể mua được sách này, -:)). Việc nhờ Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính cuốn sách chắc là do sự xuất hiện của phần này, và cũng cho thấy một sự “cẩn thận có tính toán” của người làm sách đối với một tác phẩm như thế. Đây cũng là một yếu tố nữa để đảm bảo cho thành công của cuốn sách.

Cũng cần phải nhắc thêm là, cuốn sách này được viết xong vào cuối năm 2007, và chỉ vài tháng sau khi nó được phát hành, những gì mà cuốn sách cảnh báo đã trở thành hiện thực, đúng như những gì mà chúng ta đã chứng kiến trong suốt 2 tháng qua. Do đó, cuốn sách đã lại một lần nữa củng cố thêm quan điểm của nhiều người cho rằng, George Soros là một nhà “tiên tri” đại tài trong thế giới tài chính. Soros cũng là người cực lực phản đối kế hoạch giải cứu 700 tỷ của chính phủ Mỹ vừa qua, trong khi Buffet, người đã được nhắc nhiều trên blog của ĐT37B, lại có quan điểm ủng hộ. Có lẽ gói giải cứu nói trên có thể đem lại những lợi ích trái ngược cho hai con người này?

Cuốn sách được làm theo đúng chuẩn mực của nxb Tri Thức: sách hay, trình bày đẹp, trang nhã, biên tập và in ấn cẩn thận, giấy tốt. Hiện nay, các bác có thể thoải mái mua tại Đinh Lễ với giá chỉ 32.000 VNĐ (giá bìa là 43.000 VNĐ) cho gần 300 trang của cuốn sách, tức là chỉ hơn 100 đồng/trang, một cái giá quá rẻ so với những gì cuốn sách có thể mang lại. Tôi mới mua sáng nay và mới đọc xong lời giới thiệu, nhưng cũng đã thấy “đáng đồng tiền bát gạo” vì với những cuốn như thế này, tôi sẽ không chỉ cố gắng học từ đó những kiến thức mà cả cái phương cách mà tác giả của nó đã tư duy để viết ra những kiến thức đó./.

-------

Đã đăng trên Blog ĐT37B ngày 29/10/2008

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2008

Lệ thuộc sinh ra lực cản

Tác phẩm của nhà văn hàng đầu trong nền văn học đương đại Nhật Bản Murakami đã thu hút sự quan tâm của độc giả trên toàn thế giới từ nhiều năm nay. Ở Việt Nam, dù được dịch và giới thiệu tương đối muộn, song Murakami vẫn đủ sức để làm nên một cơn sốt. Rất nhiều vấn đề có thể bàn đến, bàn sâu và rộng ra từ tác phẩm của Murakami, mà trong đó, theo tôi, đáng chú ý là tính chất phi Nhật Bản của chúng.

Ta hãy giả định một độc giả Việt Nam nào đó đã đọc tác phẩm của Basho, của Kawabata, của Akutagawa... chẳng hạn, anh ta sẽ chờ đợi gì khi lần đầu tiên cầm trên tay tác phẩm của Murakami? Tôi tin chắc rằng, với kinh nghiệm văn học Nhật Bản được hình thành từ các tác giả trên, trước khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của Murakami, anh ta đã dự cảm rằng mình sẽ gặp lại ở đây sắc thắm của hoa đào xứ Phù Tang, màu trắng tinh khiết của tuyết trên đỉnh núi Phú Sĩ, hương vị của rượu sake và món sushi, không khí huyền bí linh thiêng của các ngôi đền Shinto, tinh thần quả cảm sắt đá của các Samurai, những ngón nghề tinh tế lão luyện của các gheisa, rồi áo kimono, rồi bonsai, rồi trà đạo, rồi kịch Noh v.v...

Tóm lại, một cách gần như mặc định, người đọc Việt Nam (và không chỉ người đọc Việt Nam) đã tự kiến tập cho mình về một Nhật Bản tính nhất định qua một số yếu tố đặc thù và bền vững của văn hóa truyền thống Nhật Bản. Bằng tầm đón đợi (tôi xin phép được dùng lại một khái niệm của Mĩ học tiếp nhận) ấy, không ít người đã bất ngờ khi đọc tác phẩm của Murakami. Tất cả những dáng nét quen thuộc của văn hóa Nhật trong sự hình dung chung đều bị biến mất ở đây.

Trong tiểu thuyết "Biên niên kí chim vặn dây cót", ngay ở câu mở đầu: "Khi điện thoại reo, tôi đang nấu dở món spaghetti trong bếp, mồm huýt sáo theo bản overture Chim ác là ăn cắp của Rossini phát qua đài FM", người đọc đã cảm nhận thấy một cái gì đó xa lạ với Nhật Bản tính mà ta vốn hình dung. Và đó là ấn tượng giữ nguyên vẹn khi ta đọc hết cuốn sách.

Cả ở tiểu thuyết "Rừng Nauy" cũng không khác thế. Nhân vật trong những tác phẩm này, từ cách ăn, cách mặc, cách sinh hoạt, cách nói năng cho đến cách suy nghĩ, đều giống hệt những con người của thế giới phương Tây hiện đại, hay nói cho đúng hơn, họ chính là những con người phương Tây hiện đại được định danh bằng những cái tên Nhật Bản.

Không gian trong cả hai cuốn tiểu thuyết cũng vậy, nếu tác giả thay những địa danh Tokyo, Sapporo, Nagasaki..., bằng Dublin, London, Paris hay New York, thì cũng không gặp trở ngại gì hết đối với sự thụ cảm của người đọc, bởi lẽ dù có thắp đuốc lên tìm thì cũng không ai có thể thấy, dù là thấp thoáng, chút hình hài mang đặc trưng Nhật Bản của những đô thị Nhật Bản nói trên trong tác phẩm của Murakami. Tất cả đều đã được/ bị phương Tây hóa.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng với Murakami, cái yêu cầu về việc làm nổi bật nét đặc sắc của văn hóa truyền thống Nhật Bản, cũng như vẻ đẹp trong tâm hồn và trong tính cách con người Nhật, là điều ông không tự đặt ra cho mình (hoặc bị ông lờ đi).

Ông viết về con người Nhật Bản, nhưng không phải trong tính dị biệt văn hóa và trong những điều kiện đặc định về kinh tế - chính trị - xã hội riêng có ở Nhật. Mà ở đây là con người Nhật Bản trong những vấn đề mang tính phổ quát của con người sống trong xã hội hiện đại và chịu sự chế định bởi tính hiện đại của xã hội.

Nói cách khác, nếu người đọc nào còn khư khư với ý nghĩ mang tính quyết định luận, rằng qua văn chương có thể hiểu biết thêm về truyền thống văn hóa của một dân tộc, về con người và những vấn đề xã hội của một quốc gia, thì hẳn là người đó sẽ thu nhận được rất ít tri thức về Nhật Bản từ tác phẩm của Murakami.

Một cách cực đoan, có thể nói, tác phẩm của Murakami - mà giá trị của chúng đã được khẳng định - là một minh chứng đủ để làm lung lay niềm tin rằng tính dân tộc là một phẩm chất thiết cốt của những tác phẩm văn học xuất sắc.

Trên cơ sở tìm hiểu về tính chất phi Nhật Bản trong hai tiểu thuyết của Murakami, tôi muốn nói đến vấn đề tính dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học từ một phía khác, đó là trường hợp hai tập truyện ngắn "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" của Đỗ Bích Thúy và "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư.

Theo tôi, trong vòng hai, ba năm trở lại đây thì đây là hai tác phẩm đáng chú ý trong số các tác phẩm văn xuôi được viết ra bởi thế hệ nhà văn Việt Nam ở độ tuổi dưới 35. Mà đáng chú ý hơn cả là ở một điểm chung: hai tác giả (hai nhà văn nữ) xuất thân từ hai vùng quê khác nhau (một ở cực Bắc, một ở cực Nam của đất nước) đều tập trung khai thác và thể hiện một cách tối đa trong tác phẩm của mình sự hiểu biết về vốn văn hóa, về phong tục tập quán, về con người và lời ăn tiếng nói ở miền đất mà họ đã sinh ra và lớn lên.

Điều này được phản ánh khá rõ qua những bình luận đã có về hai tập truyện ngắn, tựu trung: "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" của Đỗ Bích Thúy mang đậm phong vị miền núi cao Tây Bắc, "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư thấm đẫm nét đặc trưng của vùng sông nước Tây Nam Bộ. Quả thực, đây là phẩm chất nổi bật trong cả hai tập truyện.

Ở lời giới thiệu cho "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá", nhà phê bình văn học Lê Thành Nghị viết: "Chúng ta sẽ bước vào một không gian lạ, không gian có núi cao trời rộng của vùng rừng núi phía Bắc, nơi từ đó nhìn xuống, dòng sông Nho Quế chỉ còn bé như sợi chỉ dưới chân núi Mã Pì Lèng. Một không gian đầy hoa lá rừng, có tiếng gà gáy tách te trong bụi rậm, có những dòng suối trong suốt với những viên cuội nhỏ, có những chàng trai thổi sáo theo sau các cô gái khoác quẩy tấu xuống chợ, những nồi thắng cố nghi ngút khói trong phiên chợ vùng cao đầy màu sắc, những đêm trăng sóng sánh huyền ảo, những cụm mần tang mọc trong thung lũng, tiếng đàn môi réo rắt sau bờ đá, lễ hội gầu tào với điệu hát gầu plềnh mê đắm của các chàng trai cô gái người Mông trên đỉnh núi...".

Còn ở "Cánh đồng bất tận", với những người miền Tây xa xứ, hoặc với những ai từng đặt chân đến miền Tây một lần, đều nao nao khi gặp lại ở đây hình ảnh chợ nổi với những dãy ghe rập rờn xao động cả mặt sóng, những người đàn ông đàn bà sống kiếp thương hồ tuy lam lũ chân chất mà rộng lượng phóng khoáng, những vùng quê heo hút chợt xôn xao khi một gánh hát dừng chân, những đàn vịt chạy đồng hàng trăm con, rồi mùi khói đốt đồng cay nồng ngai ngái buổi chiều tà, câu vọng cổ buồn não ruột loang xa trong màn đêm...

Hệ thống ngôn ngữ được vận hành trong hai tác phẩm cũng góp phần đáng kể vào việc làm đậm thêm những bức tranh không gian đặc thù này. Ở "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" tràn ngập những câu văn mà lối so sánh, ẩn dụ được sử dụng trong đó là rất gần với nếp tư duy trực quan mộc mạc của người thiểu số vùng núi cao phía Bắc.

"Cánh đồng bất tận" là cả một sưu tập phong phú những khẩu ngữ, những lối nói thuộc vỉa ngôn ngữ tiêu dùng thường nhật của người dân miệt kênh rạch sông nước Tây Nam Bộ, mà có lẽ, đã được tác giả sử dụng theo đúng một truyền thống của văn chương Nam Bộ "nói sao thì viết vậy".

Nhưng, với những biểu hiện như vậy, liệu đã có thể nói về tính dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc trong tác phẩm của hai nhà văn trẻ? Cũng như, có thể phải nhìn nhận ra sao về ý nghĩa của những biểu hiện ấy? Tôi cho rằng, với một quốc gia dân tộc đa sắc tộc như Việt Nam, không dễ để có thể nói đến một "tính dân tộc", một "bản sắc văn hóa dân tộc" chung cho tất cả mọi sắc tộc.

Hãy tạm đặt sang một bên sự nhầm lẫn thường xuyên giữa bản sắc văn hóa dân tộc và di sản văn hóa quá khứ, thế nhưng, trong khá nhiều trường hợp, khi người ta dán cái nhãn "tính dân tộc", "bản sắc dân tộc" lên một tác phẩm nghệ thuật đương đại nào đó, thì thường đó là tác phẩm khai thác di sản văn hóa quá khứ của tộc người đóng vai trò cơ bản trong đời sống cộng đồng dân tộc: người Kinh. Mà, những yếu tố thường được khai thác là: lũy tre, con trâu, nón lá, áo dài... tóm lại là những yếu tố đã trở thành biểu trưng cho văn hóa Kinh.

Rất hiếm khi người ta dùng các cụm từ "tính dân tộc", "bản sắc dân tộc" để định tính những nghệ thuật phẩm khai thác các yếu tố thuộc về di sản văn hóa của các tộc người khác trên lãnh thổ Việt Nam. Trong những trường hợp như vậy, các cụm từ/ khái niệm "tính vùng miền", "màu sắc địa phương" tỏ ra là phù hợp hơn cả.

Diễn đạt theo một cách khác, trên thực tế của việc đánh giá giá trị ở đây đã nảy sinh sự phân tầng giữa di sản văn hóa Kinh và di sản văn hóa của các tộc người còn lại trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nói như vậy để thấy, ở hai tập truyện "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" của Đỗ Bích Thúy và "Cánh đồng bất tận" của Nguyễn Ngọc Tư, cho dẫu các tác giả đã rất nỗ lực trong định hướng làm bật lên sắc thái cụ thể của người và đất ở một vùng miền văn hóa nhất định (mà vì thế họ ở thế đối lập với Murakami, xét về định hướng) thì cũng không có sở cứ để lồng vào đây cái phẩm chất về "tính dân tộc", "bản sắc dân tộc" trừu tượng nào đó.

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng, trong điều kiện Việt Nam, khi mà các khái niệm "tính dân tộc", "bản sắc dân tộc" vẫn chưa được xác định thật cụ thể về nội hàm, thì mọi ý đồ dùng nó như một chuẩn để định giá các nghệ thuật phẩm đương đại đều rất không có sức thuyết phục.

Trở lại với hai tập truyện ngắn mà chúng ta đang xem xét, trước những bình luận kiểu như mang đậm phong vị miền núi cao phía Bắc, hay thấm đẫm nét đặc trưng vùng sông nước Tây Nam Bộ, tôi thấy có gì đó quen quen. Mà quen thật.

Thử lần giở lại lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, không khó để chúng ta nhận thấy rằng những sự định giá như vậy luôn được chuẩn bị sẵn sàng để dành cho các tác giả của văn học thiểu số, và cả các tác giả của vùng văn chương Nam Bộ.

Trong khi đó, chẳng bao giờ giới phê bình "hạ cố" nói tới cái phong vị đồng bằng châu thổ sông Hồng - vùng trung tâm của văn hóa Kinh - trong tác phẩm của các nhà văn thuộc khu vực này (ví dụ, tiểu thuyết "Mẫu thượng ngàn" của Nguyễn Xuân Khánh, một tác phẩm khai thác và thể hiện rất sinh động những đặc trưng của di sản văn hóa Kinh trong quá khứ).

Chính thực tế này, dù muốn hay không, đã buộc chúng ta phải nghĩ tới sự tồn tại có thực - tuy không phải bao giờ cũng thường trực trong ý thức - của một thái độ chia tách giữa trung tâm và ngoại vi, trong văn học, và cả trong văn hóa. Bằng cái nhìn trung tâm luận, lấy văn hóa Kinh làm hệ quy chiếu, người ta đã định giá các giá trị ngoài nó thông qua tính dị biệt.

Song, điều đáng nói tới hơn cả lại chính lại là sự tác động ngược trở lại của thái độ này tới các tác giả thuộc vùng văn học ngoại vi. Nó tạo ra ngộ nhận rằng mang đậm phong vị..., thấm đẫm nét đặc trưng v.v... là chuẩn giá trị. Nó neo giữ họ thật chặt vào một ý niệm mơ hồ về bản sắc, rồi từ đó kiên trì giữ giọng dân tộc bằng lối nói ngô nghê ngọng nghịu, hoặc cứ mãi xuề xòa nói sao thì viết vậy.

Để vượt qua sự ngộ nhận này mà viết một cách "sòng phẳng và sạch sẽ" (chữ của nhà thơ Inrasara) rõ ràng cần phải có một bản lĩnh, và trên hết, một nhận thức đầy đủ để không bị lệ thuộc vào cái ám ảnh được gọi là bản sắc, tính vùng miền, địa phương v.v... Vì rằng ngộ nhận và bị lệ thuộc thì bao giờ cũng đẻ ra cái gọi là lực cản của sự phát triển.

(ANTG Cuối tháng)

Người vô sự

Đời là cuộc chạy đua hay cuộc dạo chơi. Sống là đấu tranh cho ham muốn hay an nhiên với điều mình đang có. Cuốn "Người vô sự" sẽ trò chuyện cùng ai cần tìm hiểu ý nghĩa trong mỗi khoảnh khắc nhân sinh.

Người vô sự gồm hai nội dung chính. Phần 1 là tác phẩm Lâm Tế Ngữ Lục của vị Tổ Lâm Tế. Tổ Lâm Tế là người xuất gia, học tập nhiều về kinh, luật và luận. Cuối cùng, ông quyết định chọn dòng tu thiền để đạt được chứng ngộ mà không phí hoài cuộc đời trong sự tìm kiếm, học hỏi vô ích. Lâm Tế Ngữ Lục do một đệ tử của ông là Pháp sư Tuệ Nhiên ghi chép lại những bài giảng, những cuộc đối thoại, trò chuyện giữa Tổ với vị sư và đệ tử.

Phần thứ hai của cuốn sách là bình giảng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh về những điều Tổ Lâm Tế truyền dạy.

Đúng như cuốn sách nêu ra "Ngồi chơi với Tổ...", trong cuốn sách dày gần 740 trang này, ngôn ngữ thiền và triết thấm đẫm qua từng câu chữ. Từng mẩu chuyện, từng lời bình giảng ngụ ý về lối sống thảnh thơi, sống an lạc, giảm thiểu những sân si trong tâm hồn và giúp con người có niềm tin vào bản thân.

Những mẩu chuyện nêu ra trong sách khiến người đọc phải suy nghĩ: Việc gì phải vận vào thân mình những điều mình không thể làm được, những việc mình không có khả năng làm, hoặc cố khoác lên "chiếc áo" cao xa nào đấy mà không bao giờ mình với tới được. Sống thực, sống đúng, sống hết khả năng mình và sống cho hiện tại là điều mà sách muốn nói đến.

Như một bông hoa dại nở trong ngách, trong khe núi vẫn lặng lẽ khoe sắc ngát hương. Như một người đang đói, cần ra vườn hái quả cà chua ăn mà vẫn khoan thai sải bước chứ không hấp tấp. Hai chữ "vô sự" trong sách không là trốn đời, lánh đời hay thờ ơ với sự vật, con người xung quanh; "vô sự" ở đây là thấu hiểu được chất thiền của bản ngã, của vạn vật, của sự sống để mà vui sống. 

Chính vì người vô sự là người tự do, ở đâu hay trong hoàn cảnh nào cũng làm chủ được bản thân mình, nên Thiền sư Thích Nhất Hạnh bình giảng: "... để sống từng giây phút an lạc, vui tươi, mỗi người phải tự mình đừng cột buộc, dính chặt vào quá khứ, vào những kỷ niệm đã trôi qua. Hoặc đừng bắt "cái tôi" của mình phải thổn thức, trăn trở với những ảo ảnh xa vời của trí tưởng tượng về tương lai chưa đến".

Không giáo điều, cũng không tham vọng mang đến tư tưởng quá cao xa, Người vô sự đơn giản có thể chỉ là "chiếc túi hồ lô giữ thuốc giải" cho những phiền não, mệt mỏi, để con người có thể an nhiên tự tại trong từng khoảnh khắc cuộc đời.

Anh Vân - Theo VnExpress

Thiền sư Nhất Hạnh và "Người vô sự"

Tin thiền sư Thích Nhất Hạnh sắp về Việt Nam dự Đại lễ Phật đản quốc tế Vesak Liên Hiệp Quốc tổ chức vào giữa tháng 5.2008 đã gây bao chờ đợi không chỉ đối với đông đảo phật tử và thiền sinh, mà còn cả với giới nghiên cứu về thiền và những người muốn tìm hiểu thiền học.

Bởi vì, sự có mặt của thiền sư Nhất Hạnh sắp tới sẽ mở ra những cuộc gặp gỡ đầy thiền vị cùng những khóa tu thiền từ làng Mai mang đến. Song điều hấp dẫn và lưu giữ lâu bền hơn chính là những gì ông thuyết giảng hoặc sáng tác, được ghi lại qua nhiều tác phẩm và đang phổ biến rộng rãi tại Việt Nam. Đó là các tác phẩm: Đường xưa mây trắng, Nẻo vào thiền học, Không diệt không sinh đừng sợ hãi, Giếng nước thơm trong, Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt…

Lần này cũng vậy, trong dịp Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc, một loạt tác phẩm của Nhất Hạnh được giới thiệu trân trọng, mà theo chúng tôi, cuốn sách nặng ký nhất là Người vô sự, dày 740 trang, đang có mặt tại nhiều nhà sách trên cả nước. 

Có thể nói đây là tác phẩm chứa đựng những lời hướng dẫn sâu sắc về "đời sống thiền" mà ai cũng có khả năng thực hiện, miễn là họ nhận ra "một trời thanh tịnh" luôn tồn tại bên trong mình, để được hạnh phúc "ngay bây giờ". Điều ấy không phải nói cho hay, cho đẹp, mà đã được bản thân tác giả, thiền sư Nhất Hạnh trải nghiệm trong đời sống thường nhật.

Ông nói, để sống từng giây phút an lạc, vui tươi, mỗi người phải tự mình đừng cột buộc, dính chặt vào quá khứ, vào những kỷ niệm đã trôi qua. Hoặc đừng bắt "cái tôi" của mình phải thổn thức, trăn trở với những ảo ảnh xa vời của trí tưởng tượng về tương lai chưa đến. Là vì "quá khứ đã trôi qua, tương lai chưa đến, hiện tại thì không bao giờ dừng trụ" nên cần phải vượt lên "dòng thời gian" để sống.

Điều này được Nhất Hạnh kể lại bằng chính những ví dụ về ông. Số là năm 1966 ông có viết cuốn Hoa sen trong biển lửa xuất bản tại Sài Gòn. Đến năm 1986, ông từ Pháp sang Amsterdam (Hà Lan) dự một hội thảo có mặt nhiều nhà trí thức quốc tế. Bấy giờ một giáo sư thần học đứng dậy hỏi thiền sư Nhất Hạnh là trong cuốn Hoa sen trong biển lửa vì sao thiền sư lại viết thế này, thế này... Thiền sư trả lời: "Tôi đâu có viết cuốn Hoa sen trong biển lửa!" khiến ông giáo sư trố mắt ra ngạc nhiên, vì ông đã đọc cuốn sách rất kỹ. Thiền sư giải thích: "Ông giáo sư thần học sẽ không thể hiểu được (câu trả lời kia) với bộ óc quen suy luận theo lối cũ. Sự thật rõ ràng, người đang đứng trước ông là một thực thể sống động, vậy mà ông không tiếp xúc với người đó, lại để mình tiếp xúc với một bóng ma của hai mươi năm về trước. Hai mươi năm trước, Thích Nhất Hạnh đã nói những điều trong quyển sách đó để giải quyết những vấn đề của hai mươi năm về trước. Hiện tại, Thích Nhất Hạnh đang ở đây, đang uống trà, đang đàm luận về những vấn đề thuộc sự sống ngày hôm nay, ông không tiếp xúc với cái hiện tại của tôi mà lại muốn tiếp xúc với một bóng ma của quá khứ. Tôi tức là tôi của ngày hôm nay, còn người viết cuốn sách đó đã chết rồi. Nhưng không biết ông giáo sư thần học ấy có hiểu không? Đó là ngôn ngữ của thiền".

Ngôn ngữ thiền tràn đầy qua những câu chuyện như thế trong Người vô sự, được lồng trong những lời bình giảng của thiền sư Nhất Hạnh về ngữ lục của tổ Lâm Tế. Vì thế cuốn sách có cái tựa khá dài, nếu viết đầy đủ phải là: Lâm Tế ngữ lục đại toàn: Người vô sự. Nhưng thiết nghĩ, chỉ cần ba chữ Người vô sự là quá đủ rồi. Vì ba chữ ấy gói ghém được điều tổ Lâm Tế xưa kia chỉ dạy và điều thiền sư Nhất Hạnh đời nay muốn giảng, rằng: "Dù cho quý vị có ở một mình trên đỉnh cô phong, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt đêm, không đặt lưng xuống giường... Dù cho quý vị có bố thí cả thành quách quốc gia, cả vợ con, bố thí cả đầu mắt, tủy não, voi ngựa, mọi thứ của mình đều đem ra cho hết..., tất cả đều không bằng làm một người vô sự...".

Vậy Người vô sự là gì? Bạn có thể tự tìm câu trả lời cho mình sau khi gấp sách lại.

Giao Hưởng

Nhìn cuộc sống từ "Những con mắt vàng của cá sấu"

"Những con mắt vàng của cá sấu" là câu chuyện về một lời nói dối, về tình yêu, tình bạn, sự phản bội, về tiền bạc và ước mơ... tìm được chính mình.

Tiểu thuyết khiến người đọc như thấy mình trở thành một nhân vật trong sách, vì đâu đó quanh ta trong cuộc sống thực là những con người đó, tính cách đó.

Những con mắt vàng của cá sấu (2006) được viết theo hình thức truyện trong truyện vì một trong các nhân vật, “một người kỳ dị từ thế kỷ XII”, viết tiểu thuyết, và nhân vật của cô là những người đang sống quanh cô. 

Nhiều thế hệ đan xen nhau trong cuốn sách. Bà mẹ, hai chị em gái và những đứa con đang tuổi lớn... Họ phải đối mặt với các tình huống khác nhau đôi khi vấp ngã nhưng luôn luôn đứng dậy. Một cuốn tiểu thuyết bí ẩn với những nhân vật luôn đi tìm chính mình, đi tìm sự yêu thương.

Người đọc nhận ra rằng mục đích quan trọng nhất mà mỗi cá nhân được sinh ra trên đời đều hướng tới là tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống.

Katherine Pancol, sinh tại Marocco, cư trú tại Pháp. Sau khi hoàn thành cao học văn chương hiện đại, cô là giáo viên dạy văn học Pháp và tiếng Latin, sau đó chuyển sang làm phóng viên cho Paris Match và Cosmopolitan.

Sự nghiệp viết văn của Katherine bắt đầu khi một nhà xuất bản đặt cô viết cuốn tiểu thuyết: Tôi trước hết (1979). Sau đó, Pancol có hàng loạt các tác phẩm gây chú ý khác như: Người đàn bà dã man, Scarlett, nếu có thể, Nhưng người độc ác không chạy, Nhìn từ bên ngoài, Một hình ảnh quá đẹp, Thêm một điệu nhảy nữa…

Những con mắt vàng của cá sấu đoạt giải "Maison de Presse" 2006 và nằm trong danh sách đề cử Goncourt 2006.

Gia Vũ