Recent Posts
Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2011
A Whiter Shade of Pale
Thật là vui khi những giai điệu kỳ lạ của bài hát cứ vang mãi trong tôi, mặc cho nơi quán xá tôi ngồi đang chơi BuddhaBar, hay mặc cho những còi xe huyên náo trên đường, hay mỗi khi nó hoà lẫn vào tiếng nước tan chảy từ vòi nước. Đặc biệt hơn nữa, mỗi khi ngọn lửa từ cái bật gas tắt đi và tôi vừa châm xong điếu thuốc, thì cũng là lúc Procol Harum kết thúc câu intro của bài hát: We skipped a light fandango, turned cartwheel across the floor.
* Mỗi khi nhớ đến cái tên Procol Harum, tôi lại liên tưởng đến từ Alcohol. -:)
** Đây là một bài hát mà tôi chưa từng tìm hiểu xem tên của nó có nghĩa là gì, ngay cả lúc đang viết những dòng này.
Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011
Nghĩ ngắn
Tôi thường có thói quen suy nghĩ rất lâu trước khi viết ra một cái gì đó, đặc biệt là các báo cáo quan trọng. Khởi đi từ một vài gạch đầu dòng, phần lớn thời gian còn lại cho đến deadline là dành cho suy nghĩ và triển khai các ý tưởng và câu từ. Đến sát nút cũng là lúc ngồi viết, một mạch và ít sửa chữa. Vì vậy, tôi hiếm khi mất nhiều thời gian cho việc "viết" các báo cáo.
Thêm một điểm nữa: phần lớn các báo cáo quan trọng được hoàn thành trong đêm khuya, khi vợ con đã ngủ hết; hoặc trong cái không khí vừa ồn ào, vừa thinh lặng của các quán cà phê. Và một mình.
Đó là một phần lý do tại sao tôi thích các quán cà phê. Tất nhiên, không gian quán phải không quá chật chội, nhưng cũng không được quá loãng. Chẳng hạn, 36 Điện Biên Phủ hay Cột Cờ thích hợp cho việc suy tư hơn là việc viết.
Và bar thì thực sự là một nơi chốn chỉ dành cho relax. Tôi đã thử một lần viết lách ở đó và thất bại hoàn toàn.
Thứ Tư, 15 tháng 7, 2009
Tiếng gọi nơi hoang dã
1.
Không hiểu sao dạo gần đây có cái gì đó cứ thúc đẩy mình ra ngoài đường. Nếu không vướng bận mấy thứ họp hành thì chỉ quanh quẩn ở công ty được một lúc là lại muốn la cà cà phê cà pháo. Không định nghĩa được chính xác, nhưng rõ ràng là có một thứ động lực vô hình nào đó đã nhổ mình ra khỏi cái ghế da ở văn phòng, thổi bay mình ra lê la ngoài mấy quán trà đá vỉa hè. Mà không, không phải trà đá, cà phê mới chết chứ. Có lẽ là tại mấy ngày mát trời sau một chuỗi dài những nắng nóng đến điên cả người.
2.
Nắng mưa là chuyện của giời, vì vậy đổ lỗi cho mấy ngày trời mát thì không được “phải” cho lắm. Động lực đó, suy cho cùng chính là cái bản tính thích tự do, khoáng đạt của tôi, mà, nói như kiểu Dr. Nikonian là “thích tự do và lang thang như gió”. Sau gần 5 năm trời cặm cụi, căng thẳng, hì hục và cày như trâu như chó, dồn hết cả sức lực, tuổi trẻ, đam mê và những nỗi bận tâm vào một việc duy nhất, cái bản năng đó đã bị kìm nén, đẩy vào cái ngăn kéo sâu nhất, dồn xuống đến đáy cái dạ dày. Vậy nên đến khi cái “việc” đó đã bắt đầu tạm ổn, đi vào quỹ đạo, tạm thời coi là một thời gian đệm để đến với một hành trình mới có vẻ “căng thẳng” hơn, cái bản tính đó đã trỗi dậy, đòi quyền được sống lại.
Nó sống lại để đẩy tôi ra ngoài đường, đẩy hồn tôi trôi nổi ra ngoài những giấy tờ, bảng tính, âu lo, để tôi thấy lại rằng “thế giới quả là rộng lớn” và qủa thực tôi còn có nhiều mối quan tâm khác ngoài công ty, những mối quan tâm mà tôi đã phải nén lòng lãng quên trong suốt mấy năm qua.
Tôi giờ đây giống như chú ếch đã luẩn quẩn quá lâu dưới đáy giếng, nay, bằng cách nào đó, đã bò lên đến miệng giếng và đang chuẩn bị nhảy ra ngoài.
3.
Sáng nay cà phê một mình, ngồi lơ đãng nhìn qua hàng rào thưa của quán, chợt thấy một cái taxi đỗ xịch bên cạnh một gốc cây bên đường. Chú tài bước ra khỏi xe, đến đứng đối mặt với gốc cây xà cừ cổ thụ mà tuổi của cây có lẽ còn cao hơn tuổi của người đã sinh ra chú, rồi thản nhiên vạch quần rồi tè vào cái gốc cây ấy. Tự tại và bình thản như thể chú đã làm việc đó rất nhiều lần ở chính cái chỗ đó, nhiều như chính trong toilet nhà chú mỗi buổi sáng vậy.
Bỏ qua những bức xúc về vệ sinh công cộng nơi cái thủ đô ngàn năm văn hiến này, tôi tự hỏi tại sao người ta hay thích tè bậy vào gốc cây. Ngoài việc nó là một chỗ che chắn, tôi đồ rằng khi đái vào gốc cây, người ta sẽ có cảm giác như đang tưới cây, cung cấp thêm một ít nước và muối cho cái sự sống của cây, và qua đó, nó giống như là đang chăm sóc cái cây chứ không phải là đái bậy. Vì vậy, khi đái vào cây, cái cảm giác tội lỗi sẽ được bớt đi chút ít, chứ không như khi người ta làm việc ấy vào tường hay vào cái cột đèn.
Nhưng quả thực là tè bậy cũng có cái thú riêng của nó. Trong những chuyến xe đêm đường dài của những đợt công tác xa, rất thường khi chiếc xe phải dừng ở một vệ đường hoang vắng nào đó. Cả đội hào hứng nhảy xuống xe, men xuống tận mép ruộng ngập tràn cỏ dại, dạng chân, ngẩng cao đầu, mắt xa xăm dõi theo những vì sao trên nền trời đêm, gió mát lành thổi tung những lọn tóc, những vạt áo, gấu quần, rồi bình thản làm cái việc ấy, mới thấy hết thế nào là "nhất quận công, nhì ... đồng". Những lúc đó, tôi thấy còn "phê" hơn cả đội hình những Eric Clapton, George Harrison và Mark Knopfler ôm đàn dạng chân đứng dàn hàng ngang trên sân khấu lộng gió của công viên Hyde Park để trình diễn Sultans of Swing. Cái hoang dã miễn phí ấy đã mang đến một cảm giác mà không một toilet ốp đá cẩm thạch với lavabo bằng vàng nào có thể đem đến được.
4.
Tối qua tình cờ lướt qua kênh HBO, thấy có chiếu một bộ phim mà qua những lần theo dõi đứt đoạn, không đầu không đuôi, chợt nhận ra đó chính là “Into the Wild” mà tôi đã được biết đến từ lâu. Từ những mảnh ghép rời rạc, tôi chưa kịp hiểu diễn biến toàn bộ câu chuyện, nhưng đã thấy toát lên là sự dấn thân của Chris, nhân vật chính của phim. Tôi không biết Chris dấn thân như vậy để tìm đến với thiên nhiên hoang dã, hay là để tìm lại chính bản thân mình, hay là cả hai. Cá nhân tôi nghĩ là cả hai mục đích đó đều đáng để dấn thân, nhưng khi chứng kiến cảnh Chris chết vì kiệt sức và ăn nhầm một thứ hạt cây có chứa chất độc, chết dần chết mòn trong xác của một cái xe buýt rách nát, dưới sự chứng kiến của bầu trời trong và xanh ngắt đến chói chang của vùng Alaska, tôi tự hỏi như thế có đáng hay không. Phía sau Chris còn có rất nhiều người như gia đình anh, người bạn già mà anh đã quen trên đường – người trước khi chia tay anh đã đề nghị anh làm con nuôi của ông – đáng để Chris dấn thân hơn rất nhiều?
Chris để lại cho tôi nhiều mối liên hệ với Marco Fogg – nhân vật chính trong Moon Palace, một tiểu thuyết dài nhất mà tôi đã đọc trong năm nay. Giống như Chris, Marco cũng để dành hết những ngày tươi trẻ nhất của mình để dấn thân vào một quá trình tìm kiếm bản ngã của chính anh. Marco cũng đã từ bỏ hết mọi thứ, để ngày càng chìm dần vào một hành trình tự huỷ hoại bản thân, từ một sinh viên vừa tốt nghiệp đại học để trở thành một người bới rác kiếm cái ăn trong công viên Central Park, rồi cuối cùng đã suýt chết trong kiệt sức và bệnh tật nếu không có hai người bạn tìm thấy.
Chẳng hiểu sao nước Mỹ lại sinh ra những con người như vậy? Hay đó chỉ là tiếng gọi của tự do, một loại tiếng gọi đến từ nơi hoang dã?
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2009
Memories of Tomorrow hay là những Hoài niệm về một mái hiên
Hà Nội đang trải qua những ngày hè nóng chưa từng thấy. Gần nửa đêm, bước ra khoảng sân nhỏ bị vây kín bởi bê tông và nhà cao tầng, vẫn thấy cái nóng hầm hập như đốt lửa quanh người. Trời đầy sao và không một cơn gió. Cái tĩnh lặng của đêm thì phải nhường chỗ cho những âm thanh rầm rì của dàn đồng ca phát ra từ vô số cục nóng điều hoà.
Chợt nhận ra cái vòng luẩn quẩn trong việc gìn giữ môi trường: phá huỷ-biến đổi khí hậu-chống chọi với biến đổi khí hậu bằng cách làm gia tăng biến đổi khí hậu, mà điều hoà là một ví dụ.
Trở lại với căn phòng kín bưng, với thứ không khí lạnh ngắt và khô khốc thổi ra từ cái điều hoà, chợt nhớ quay quắt một mái hiên những đêm hè của một thời chưa xa, nhưng đã là thời xưa cũ, như tên một album của Bob Dylan: Time out of Mind.
Đó là một hàng hiên rộng, láng ximăng trước ngôi nhà tranh giản dị, được dựng lên bằng ba cái cột tre.
Vào mùa hè, bố tôi làm một cái phản tre kín gần nửa cái hiên, chỉ đơn giản bằng cách kê mấy cái lạch giường bằng tre lên bốn viên gạch xỉ ở bốn góc. Trên cùng là mảnh chiếu cói. Đó là những thứ đặc trưng của cái nghèo mà trớ trêu thay, ngày nay được gọi bằng cái tên mỹ miều là “vật liệu thân thiện môi trường”- những thứ được giới kiến trúc sư cấp tiến ngày nay ra sức quảng bá và lăng xê thuyết phục giới nhà giàu quay lại sử dụng trong các công trình kiến trúc đương đại. Tất nhiên, dưới những hình thức khác và chi phí khác với thời bố tôi. Nhưng đó là chuyện khác.
Bố con tôi thường trải qua hầu hết những giấc ngủ đêm hè trên cái phản tre đó, trừ các đêm mưa. Suốt những năm tháng tuổi thơ của tôi, ngủ ngoài hiên đã trở thành một cái thú mà sau này, như giờ khắc này chẳng hạn, đã trở thành nỗi thèm nhớ khôn nguôi.
Ngủ ngoài hiên mát hơn rất nhiều so với trong nhà, mặc dù quây quanh bố con tôi là một cái màn “diềm bâu” – loại màn mà không khí cũng khó lọt vào chứ đừng nói là muỗi. Những hôm nóng quá, trước khi đi ngủ, hai bố con thường xuống tắm ở con sông nhỏ trước nhà, cách mái hiên chỉ một con đường đất nhỏ. Đó cũng là nơi mà lúc mới lúc chiều mẹ tôi và những người hàng xóm vo gạo, rửa rau để nấu bữa cơm tối, nơi người ta giặt giũ, múc nước về để sinh hoạt hàng ngày. Nhưng là một dòng sông không ngừng chảy, chúng tôi chẳng thấy những cái đó làm bẩn dòng sông, cũng như không ai cho rằng việc tắm táp của chúng tôi nơi đó làm bẩn nguồn nước sinh hoạt của họ. Đó cũng là lý do vì sao sau này học triết, tôi không cần nghe thầy giảng đến lần thứ hai đã hiểu ngay câu nói: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”, cho dù tôi đã tắm không biết bao nhiêu lần trên chính đọan sông đó.
Tôi nhớ những đêm trăng, vùng vẫy trong dòng nước phù sa mát lạnh, mặt nước loang loáng ánh trăng, tạo nên một thứ màu sắc kỳ ảo đầy huyền hoặc, tôi cứ ngỡ mình như những chú bé chăn trâu trong chuyện kể của bà nội, vui sướng và không vướng bụi âu lo. Tôi cũng cứ ngỡ nước phù sa và ánh trăng đã cho tôi một đêm ngủ ngon mà không biết rằng bố tôi đã phải quạt cho tôi ngủ đến rã cả tay bằng cái quạt nan do ông tự đan lấy mỗi khi hè đến.
Tôi nhớ đến nhiều đêm tỉnh dậy, thấy loang loáng ánh đèn pin của những người đi câu ếch ban đêm ở cánh đồng gần nhà, những thì thầm chuyện trò giữa họ, tôi đã tưởng là ma mà nằm im không cựa quậy.
Tôi nhớ, có những lần nửa đêm phải choàng dậy, cuống cuồng cùng bố dỡ màn gấp chiếu chuyển vào trong nhà vì trời chợt mưa vào nửa đêm. Cũng rất thường khi khi tôi tỉnh dậy vào sớm mai thì thấy mình đang nằm trong nhà vì đêm qua mưa nhưng tôi ngủ say quá, bố đã bế tôi vào mà không gọi dậy.
Và cũng rất nhiều khi, khi thức dậy dưới ánh mai, tôi chỉ còn một mình vì bố đã đi chợ từ rất sớm. Có lẽ, từ lúc những người đi bắt ếch đêm đã xong việc trở về nhà.
Ngủ ngoài hiên cũng có những trải nghiệm rất lạ, là tôi thường mơ màng tỉnh dậy trong tiếng lao xao của những người đi chợ, đi làm đồng buổi sớm. Và rất thường khi, người gọi tôi dậy không phải là bố mẹ mà là bác hàng xóm tốt bụng. Đó là những thứ không thể có được nếu ngủ ở trong nhà.
Những giấc ngủ ngoài mái hiên dẫn tôi đến với nỗi nhớ về chính mái hiên lợp bằng lá cọ mộc mạc ấy.
Đó là nơi bọn trẻ con chúng tôi quây quần chơi ô ăn quan, là nơi tôi kỳ công chặt những mẩu tre rồi hý hoáy khắc nên đó những tốt, xe, hậu, tướng, mã – bộ cờ vua đầu tiên trong đời. Đó cũng là nơi tôi kỳ cụi đục đẽo mài khoáy nên hàng trăm viên bi đá đủ sắc màu: đen, trắng, hồng, xanh, vằn, chấm,... Đó cũng là nơi tôi biến mái hiên thành bàn bóng bàn, với lưới chỉ là một thanh tre đặt lên hai viên gạch – một cái bàn mà đánh năm quả thì phốt tới bốn vì cái nền xi măng láng không được phẳng. Là nơi tôi có những xúc cảm đầu tiên với hội hoạ, khi nhìn ngắm những con rồng, những bông hoa được khắc trên cái cột tre của mái hiên bởi hai anh học cấp ba trọ ở nhà tôi.
Đó cũng là nơi mà tôi đã trải qua bao vui buồn chiến công và thất bại của những dế mèn, mèo con, Mai An Tiêm, Tôn Ngộ Không và Trư Bát Giới, 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc hay ba anh em kết nghĩa vườn đào. Khi lớn lên một chút, đó cũng là nơi tôi nghiền những bộ tiểu thuyết đầu tiên, từ Không Gia Đình của văn học lãng mạn Pháp cho tới thể loại văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa của Nga như Sông Đông Êm Đềm, Đất Vỡ Hoang,.... Vào thời đó, chắc chẳng có gì tuyệt bằng việc ngồi trên cái sạp tre dưới mái hiên, vừa say sưa với 72 phép thần thông của Tề Thiên Đại Thánh, vừa nhấm nháp đến hết sạch cả rá dâu da chín hái từ cái cây chỉ cách mái hiên hai bước chân.
Đó cũng là nơi tôi được thưởng thức những món ăn quê mùa do mẹ tôi nấu vào những bữa cơm chiều, những món ăn mà bây giờ chỉ còn là hoài niệm. Nơi đó diễn ra những bữa tối, dưới ánh đèn dầu, với sự chứng kiến của hàng xóm và người qua đường, và, đã thành thông lệ, ngoài việc mời bố mẹ ăn cơm, chúng tôi còn phải mời cả cô chú bác anh chị hàng xóm, và không ít khi, là cả những người qua đường, những người sau đó thường nói, “Ồ, nhà bác hôm nay có món dưa ngon thế” hoặc “Bà... mua con cá ở đâu mà to vậy”. Đại loại thế, một bữa ăn giữa bàn dân thiên hạ mà sự công khai của nó có khi còn hơn cả bữa ăn của Obama trong Nhà Trắng bây giờ.
Đó cũng là nơi bố tôi ngồi đan những lá cót lấy công làm lãi, là nơi tôi đang những cái áo cối để bán và có được những đồng tiền kiếm được đầu tiên trong đời, là nơi sau này tôi ngồi kỳ cụi dán hàng nghìn cái túi giấy nho nhỏ để bán cho hiệu thuốc tây của thị trấn trong kỳ nghỉ hè. Đó cũng là nơi tôi thường lục cái thúng của mẹ tôi mỗi khi bà đi chợ về, thế nào cũng có khi thì cái bánh đa, khi thì vài khúc mía, hoặc mấy quả táo xoan đựng trong cái ống bơ. Quà thì khác nhau, nhưng bao giờ cũng có một điểm chung: chúng luôn luôn dính lấm tấm những hạt cám gạo, vì cám là món hàng mẹ tôi bán ở chợ, là thứ đã mang đến những đồng tiền để mẹ tôi không chỉ mua cho tôi những đồng quà tấm bánh đó mà còn nuôi sống cả gia đình.
Nhưng cũng chính mái hiên đó cũng là nơi đặt quan tài của mẹ tôi ngày bà nói lời vĩnh biệt cõi trần để đi gặp tổ tiên và ông bà ngoại tôi, là nơi bà nội tôi vật vã khóc than người con dâu xấu số của mình, là nơi sau đó bố tôi ngồi mỗi buổi chiều, mắt xa xăm mong ngóng một ai đó trở về, là nơi tôi thu mình trong nỗi đau câm nín không nói thành lời. Những bữa cơm chiều vẫn diễn ra dưới mái hiên ấy, nhưng bốn người nay chỉ còn ba. Tối tối, bố tôi vẫn bày ra cái phản tre bộ đồ trà và cái điếu thuốc lào. Hàng xóm vẫn đến nhưng cũng chẳng biết nói gì, chỉ lặng lẽ uống nước, hút thuốc rồi ra về.
Sau đó không lâu, cái mái hiên chỉ còn một nửa. Bố tôi đã phải bán đi một nửa cái nhà để trang trải nợ nần những ngày mẹ tôi nằm bệnh. Nó cũng được xây cao hơn, nhưng cột thì vẫn bằng tre, và vẫn sinh hoạt dưới cái mái hiên đó.
............
Đó cũng là nơi hàng xóm đến mừng cho tôi trước ngày tôi xa quê để đi học đại học. Là nơi họ chào tôi với những ánh mắt ái ngại, tay dúi cho tôi những đồng 10 nghìn, 20 nghìn chắt chiu từ những khó nhọc mưu sinh. Sáng hôm sau tôi ra đi mà không biết rằng tôi đã mãi rời xa mái hiên đó, cho đến tận bây giờ.
Sau này nhà tôi cũng chuyển đi chỗ khác. Khi xây ngôi nhà mới, tôi và bố đã làm một mái hiên thật rộng. Một bên là cánh đồng mênh mông, nhìn ra trước mặt là một khoảng sân và một cái vườn rộng. Nó qủa thực đẹp hơn mái hiên xưa rất nhiều. Nhưng mái hiên đó không còn nhiều kỷ niệm như cái mái hiên đã mất. Nó chỉ còn là lời nhắc nhở rằng có một cái gì đó đã vĩnh viễn mất đi không thể trở lại và là nơi chứng kiến sự đơn côi của bố tôi lúc tuổi già. Ông giờ đây không đủ khoẻ để có thể ngủ ngoài hiên như xưa, dù trời bây giờ nóng hơn rất nhiều. Tôi gọi điện về hỏi thăm, ông nói: Có, buổi tối vẫn ngồi ngoài hiên, ngó vào trong nhà xem tivi qua cửa sổ.
(*) Thật trùng hợp khi hôm nay lại đúng là Father’s Day của Mỹ (21/6).
(**) Thực ra ý tưởng của bài viết này đến không chỉ do một đêm Hà Nội quá nóng, mà còn do một bản solo piano của Keith Jarrett: Phần 1 trong buổi trình diễn độc tấu piano của ông mang tên The Koln Concert. Bản nhạc này sau đó đã được đặt tên là Memories of Tomorrow. Tôi cũng xin lấy cái tên đó để đặt cho tản văn này.
Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009
Hoài niệm Huế (1)
Chúng tôi dự định đi Huế từ thời còn chưa cưới nhau. Chương trình cũng đã được lập sẵn, nhưng sau đó đã phải huỷ bỏ, vì nhiều lý do. Lúc đó, tôi không nghĩ cái sự hoãn lại đó lại kéo dài đến thế. Vậy mà phải đến khi thằng lớn đã lên 5, còn cậu nhóc thứ hai đã lên 3 tuổi, dự định đi Huế của chúng tôi mới trở thành hiện thực.
Háo hức, do đó, là chuyện đương nhiên.
Từ trước ngày lên đường cả nửa tháng, bà xã đã treo lên blast ước vọng được ngồi cà phê ở Huế. Chúng tôi còn cùng nhau lên một lịch trình chi tiết cho chuyến đi, ngày nào, giờ nào, làm gì, ăn gì, ở đâu, di chuyển như thế nào,... có lẽ còn chi tiết hơn tất cả những lịch trình công tác mà tôi đã từng lập trước đó. Vẫn biết sự tự do là mục đích tối thượng của mỗi chuyến đi, chúng tôi vẫn gò ép mình vào một lịch trình chi tiết như vậy, để có thể tận dụng được hết quỹ thời gian hạn hẹp của kỳ nghỉ. Cũng biết rằng có nhiều bất ngờ đang đợi mình phía trước, chúng tôi vẫn muốn biến lịch trình đó thành một quỹ đạo riêng, và dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng sẽ không để chệch quá xa quỹ đạo của mình. Có lẽ với ngân sách dồi dào và khoảng thời gian là nửa tháng, chúng tôi sẽ không bỏ ra, dù chỉ là một phút giây, để làm ra những thứ như vậy.
* * *
Chúng tôi đi chuyến tàu tối, xuất phát từ ga Hà Nội lúc 7h15. Phải đến khi quăng mình vào cái “ghế mềm, điều hoà” và ổn định mọi thứ, từ hành lý lỉnh kỉnh cho tới chỗ ngồi của Tít, thành viên đặc biệt của chuyến đi, tôi mới có cảm giác bỏ lại đằng sau mọi lo toan, bận rộn đìu ríu bấy lâu nay. Tàu chuyển bánh đúng giờ. Chúng tôi xa Hà Nội trong cái dập dình của toa tàu, giữa những âm thanh đay nghiến của bánh tàu xuống đường ray, tiếng vặn cùng cục nặng nhọc ở mỗi khúch quanh, và tiếng loa phóng thanh the thé của nhà tàu, lòng mơ màng đến đích đến thanh bình vào sáng hôm sau: ga Huế.
Chẳng có việc gì đáng kể để làm trên cái toa tàu buồn tẻ, tôi lôi hai cái cuống vé ra ngắm nghía. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra trên đó, người ta chỉ ghi giờ khởi hành mà không ghi giờ đến ga cuối. Là người ít đi tàu, đối với tôi dường như đây là một phát hiện lớn. Tôi nghĩ mãi về điều đó, là vì nếu không có cái giờ đến chính xác, lịch trình của chúng tôi có thể bị xáo trộn. Dựa vào kinh nghiệm về thời gian của những người đã từng đi trước đó, chúng tôi đã dự định sẽ đến Huế vào lúc 8h30 sáng hôm sau, sẽ tụ tập ăn nhanh một tô bún bò quanh ga Huế rồi lên xe dông thẳng vào Lăng Cô. Nếu muộn hơn, vụ ăn sáng bằng bún bò sẽ là điều không thể. Cùng lúc đó, tôi nhận ra rằng việc không in giờ đến ga cuối, suy cho cùng là biểu hiện của sự kém tự tin của ngành đường sắt. Đáng buồn thay, đó lại là sự kém tự tin của một ngành có bề dày lịch sử hơn 100 năm – một trong những ngành đầu tiên của Việt nam được định nghĩa và phân loại bằng hai chữ “công nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ người ta cũng đã nhầm khi phân lọai như vậy. Ngành đường sắt, trên hết phải là một ngành dịch vụ. Tôi đã nghe ở đâu đó nhiều lần rằng, khi đề cập đến sự yếu kém và chậm phát triển của ngành này, người ta đổ lỗi cho việc thiếu vốn. Nhưng vấn đề của ngành dịch vụ, chắc chắn không phải là vốn, mà phải là cái não trạng kinh doanh dịch vụ, một cái business mind hướng về khách hàng – những thứ mà từ tấm vé tàu tôi suy ra rằng lãnh đạo ngành đường sắt không có hoặc vì điều gì đó, họ đã cố tình lãng quên.
Bỏ qua nỗi hoang mang nho nhỏ về thời gian, tôi cảm thấy hơi khó chịu khi thấy mồ hôi bắt đầu rịn ra. Tôi bắt đầu quan sát xung quanh và nhận ra nhiều người cũng đang cùng cảnh ngộ. Mặc dù là toa “điều hoà”, như người ta đã ghi vậy trên tấm vé, nhưng không khí rất nóng vì cái điều hoà đang trục trặc. Chẳng có ai giải thích hoặc có động thái thể hiện là sẽ tiến hành sửa chữa cái trục trặc đó. Chúng tôi tự nhủ rằng chắc ngồi im một lúc, không khí sẽ dịu đi.
Không lâu sau, tôi nhận ra rằng chúng tôi là một thiểu số 3 người đã rơi vào một toa tàu gồm toàn những người làm chung một cơ quan hoặc họ hàng. Họ đã mua vé gần hết toa và giờ đây họ bắt đầu thể hiện sự thân quen của họ như thể họ đang ở trong cơ quan hoặc nhà của họ chứ không phải trên tàu. Có lẽ đối với họ, toa tàu này đích thực là “a home away from home”, như nhiều khách sạn nổi tiếng thường quảng cáo vậy. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là tàu chợ, mặc dù cái tàu chúng tôi đang đi không phải là tàu chợ, cũng chính là vì chúng tôi đã rơi đúng vào cái chợ vỡ đó. Lúc đó, tôi biết tôi sẽ có một đêm không yên bình.
Giống như những cuộc vui thông thường khác, đám chợ vỡ bắt đầu gầy độ nhậu và đánh bài. Họ tập trung ở giữa toa và bắt đầu cuộc vui bằng những tiếng cụng ly, những tiếng xuýt xoa mỗi khi lỡ đánh nhầm một quân bài, những tiếng cười hô hố hoặc những lời kể lể the thé, những phàn nàn và ức chế trong công việc, những đàm tiếu về người này, người kia, vân vân và vân vân. Minh hoạ cho những âm thanh đó là những dáng người ngả ngốn, những cái bụng phệ bèo nhèo và những khuôn ngực đàn ông lép kẹp trong cái áo ba lỗ, những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười toe toét hết cỡ, những người đàn bà ghé tai nhau thầm thì, và những bắp chân đầy lông lá gác lên thành ghế. Một tay trong nhóm, có lẽ là lãnh đạo ở cơ quan, mặt hơi ửng đỏ, liên tục đi lại, nói năng chỉ đạo hết đám nhậu lại đến đám tá lả. Hắn khệnh khạng nâng ly, ép một tay thuộc hạ phải uống cho bằng hết, rồi lại quay sang nói ông này phải đánh cây này, ông kia phải đánh cây kia, và một ông nào đó đang ở nhà với vợ, lẽ ra phải đi cùng chuyến này mới phải. Hắn gãi bụng xoành xoạch, vén cái áo phông lên tận nách và bắt đầu phàn nàn chửi bới cái điều hoà – lúc này đã mát hơn trước nhưng người hắn đang bốc hoả vì rượu nên cũng chẳng ăn thua gì. Hắn lăng xăng khắp toa tàu để tìm chỗ điều khiển cái điều hoà nhưng không có. Hắn lớn tiếng chửi bới cái điều hoà như thể Chí Phèo đang chửi cả làng Vũ Đại. Rồi cuối cùng hắn thể hiện sự nhanh nhẹn – một trong những “tố chất lãnh đạo” của hắn - bằng cách lôi kéo được tay trưởng toa vào độ nhậu. Tay này sau một hồi zô zô, ngả ngốn, ăn uống nói cười bắt đầu đứng dậy làm nhiệm vụ cao cả của mình là sửa chữa cái điều hoà bị hỏng. Chẳng biết kết quả thế nào nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã thấy mát hơn hẳn, khi cả đám chợ vỡ đã chán bài bạc, rượu đã ngấm và bắt đầu quay ra ngáp vặt hoặc ngáy như kéo gỗ. Cái chợ đã tan khi tất cả những người tham gia họp chợ đã áp dụng tối đa khẩu hiệu “make it your home”. Lúc đó đã là nửa đêm.
Tất cả những cảnh tượng đã qua khiến tôi nhớ đến những đám đông bên Tàu mà tôi đã từng chứng kiến. Nhốn nháo, lộn xộn, nói cười oang oang, chen lấn xô đẩy và “xếp gạch” nơi công cộng, những đặc điểm mà chắc chắn nhà văn Bách Dương đã đưa vào cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” nổi tiếng của mình. Việc quan sát những đặc điểm đó thậm chí còn đem lại cho tôi những niềm vui nho nhỏ mỗi khi có dịp lang thang nơi xứ người. Nhưng giờ đây, tôi không cười được khi thấy người Việt mình cũng “xấu xí” chẳng khác gì người anh em Trung Quốc. Chẳng nhẽ “tương đồng văn hoá” lại có nghĩa là xấu xí như nhau?
Tôi hơi đói nên tìm đến toa “nhà hàng” trên tàu. Toa này tối om, một nhân viên nhà tàu ngồi gần đó nói với tôi là đã hết giờ phục vụ. Bình thường tôi hay mặc áo màu xanh trứng sáo, nhưng hôm nay nhìn gã nhân viên trong màu áo ấy, tôi thấy ghét lạ, thậm chí còn tự nhủ nếu công ty mình may đồng phục thì cũng sẽ không chọn màu này. Tôi thấy lạ một điều là khi còn sớm, mọi người đều đã ăn uống no nê trước khi lên tàu thì các hàng ăn uống lũ lượt qua lại các toa tàu để bán hàng, và chẳng có mấy người mua. Nhưng đến khi họ bắt đầu đói và cần đến cái ăn, đồ uống thì lại chẳng có ai ở đó để đáp ứng, ngoài gã trực toa ngái ngủ trong cái áo đồng phục ngành đường sắt màu xanh trứng sáo và câu trả lời đáng ghét kia?
Cuối cùng, tôi cũng thiếp đi được một lúc. Tôi tỉnh dậy khi tàu dừng lại ở ga Đông Hà. Tàu dừng lại rất lâu, không hiểu để làm gì. Tôi tiếp tục ngủ được trong mệt mỏi và cái đói chưa được thoả mãn. Đến khoảng năm rưỡi sáng thì tôi tỉnh hẳn. Con tàu đang lao đi trong ánh sáng mờ sương của buổi sớm. Lần đầu tiên kể từ suốt cuộc hành trình, tôi nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Những quả đồi trọc, những cánh đồng trống không, xơ xác, thỉnh thoảng mới qua một vài mái nhà xiêu vẹo. Tôi chợt nhận ra rằng, từ Hà Nội, để đến được với những resort sang trọng, những bãi biển xanh tươi nằm dọc miền Trung, người ta vẫn phải băng qua một quãng đường dài của nhọc nhằn và đói nghèo. Nối kết giữa hai đầu của những phù du & phồn hoa phố thị là sợi dây hiện thực của những lam lũ vất vả mưu sinh.
Mọi người bắt đầu thức dậy. Đến khoảng 7 rưỡi sáng thì mọi người lục tục đi ăn sáng. Cỗ máy bán hàng ngái ngủ đêm hôm qua đã bắt đầu hoạt động trở lại. Tôi vẫn mơ màng với vụ ăn sáng bằng bún bò ở Huế nên chẳng mấy mặn mà với đồ ăn trên tàu. Nhưng tôi đã sớm phải vỡ mộng. Dù chẳng có thông báo chính thức gì từ cái loa phóng thanh xoe xoé lẹp bẹp trên tàu, giới thạo tin cho tôi biết tàu sẽ đến Huế rất muộn. Nghĩa là tôi sẽ đến Huế vào giờ chuẩn bị ăn trưa chứ không phải thời gian ăn sáng. Thế nghĩa là những gì tôi lo ngại đã trở thành sự thật. Sau khi check lại thông tin với một vài “đồng phục áo xanh trứng sáo đáng ghét” khác, tôi miễn cưỡng cùng bà xã đi ăn sáng.
Chúng tôi bước vào một toa mờ mịt khói và nhớp nhúa. Chỉ có khoảng 5-6 bàn và tất cả đều ken đặc người. Họ đang xì xụp quanh những hộp mì nghi ngút. Chúng tôi định quay ra thì có một bàn đã ăn xong, đứng dậy nhường chỗ. Chúng tôi rón rén ngồi lên những chiếc ghế cáu bẩn, cố tránh những vệt nước mì nhầy nhụa đang lênh láng trên mặt bàn, chực chờ chảy vào quần áo chúng tôi mỗi khi toa tàu lắc mạnh.
Giống như mọi người, chúng tôi gọi ba hộp mì. Tôi hơi đói nên cái mùi vị từ hộp mì thoạt tiên rất hấp dẫn. Nhưng chỉ sau gắp đầu tiên, tôi đã thấy có gì đó không ổn. Tôi nhìn bà xã, nói “Mì hôi quá”. Người đồng hành của tôi đáp lại, từ tốn và nhẹ nhàng: “Có mùi cứt gián”. Đó đúng là cái mùi hôi mà tôi chưa cắt nghĩa được. “Đốn ngộ” về mùi là thành tích mà tôi đạt được chỉ sau một lời giảng vô cùng ngắn gọn của một “thiền sư” là vợ tôi ngồi đối diện. Cuối cùng thì bữa sáng cũng xong, sau khi vật lộn với hộp mì nông choèn mà nước cứ chực trào ra bắn lên mặt mỗi khi chúng tôi cúi xuống xực gắp mì. Tôi không hiểu vì cớ gì nhà tàu phải phục vụ thứ mì tôm như vậy, trong khi hàng ngày trên ti vi quảng cáo có không biết bao nhiêu là loại mì khác? Nó còn tệ hơn cả thứ mì cân rẻ tiền nhất mà thời sinh viên chúng tôi phải ăn hàng ngày.
Rồi cuối cùng thì Huế cũng hiện dần ra qua ô cửa, qua những địa danh nghe đặc chất Huế, qua những lăng mộ hai bên đường mà tôi biết qua kiến trúc đặc trưng của nó.
Ga Huế chào đón chúng tôi dưới ánh nắng chói chang lúc hơn mười giờ sáng, chậm gần hai tiếng so với lịch trình dự kiến và không một lời xin lỗi. Ra khỏi ga Huế, cảm giác của tôi như một gã tù được phóng thích và phải đến lúc đó, tôi mới tin rằng hành trình của chúng tôi đã thực sự bắt đầu.
* * *
(Còn tiếp)
