Recent Posts
Thứ Hai, 13 tháng 9, 2010
Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2010
Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2010
Ước mơ chốn thị thành
Tôi hay đọc các tạp chí. Trong một khu rừng các tạp chí hiện nay, có một cuốn mà tôi rất mong ước được cầm trên tay thì lại đã ngưng xuất bản và không biết bao giờ mới tái xuất giang hồ: Saigon City Life. Tất cả những gì mà tạp chí này còn lưu lại là khoảng vài chục bài online mà cho đến giờ cũng không được cập nhật nữa. Tôi đã đọc hết các bài này, và có một điều kì lạ là tất cả các bài viết này đều rất được, rất đáng để đọc. Tôi hiểu rằng đó là một tạp chí rất có “gu”, mà cái “gu” đó lại gần như trùng lắp với cái gu đọc của tôi. Vậy nên tôi kết luận rằng việc Saigon City Life ngưng xuất bản là một điều rất đáng tiêc, ít nhất là với cá nhân tôi. Tôi biết đến nó quá muộn để có thể sở hữu những bản in của nó.
Như thế nào là một City Life? Tôi chẳng phải là một nhà xã hội học để có thể trả lời. Tôi chỉ hình dung ra nó là một cuộc sống nhanh, gấp gáp, bừa bộn lo toan, hào nhoáng, hiện đại, và giàu có,... Đó là cái bề nổi hiện thực mà mọi người đều dễ nhận ra. Nhưng đọc Saigon City Life, tôi hiểu, trong lòng đời sống thành thị hiện đại đang có một dòng chảy ngầm, một trào lưu... sống chậm. Chậm theo đúng nghĩa đen.
Một trong những bài ấn tượng nhất đối với tôi về trào lưu này trên tạp chí là “Ngó vô từ ngoài”, kể chuyện về cuộc sống của một người di tản sang Cali sau 1975. Nhân vật trong bài đã chọn một lối sống mà tôi phát thèm:
“Hai chục năm trước, qua trung gian một người quen của cả hai, tôi nhận được vài tấm ảnh màu của bà bạn chụp hai đứa con gái nhỏ đang cưỡi ngựa trên một nền nâu đất có rừng cây sau lưng, tấm kia - một ngôi nhà tuyết phủ trắng khung gỗ chưa lợp mái. Đó là thông tin duy nhất tôi có được về bạn kể từ tháng tư 1975. Trong thời gian mất liên lạc sau đó, tôi đâu biết không lâu sau khi định cư ở Mỹ gia đình họ đã quyết định bỏ phố chợ về sinh sống vùng hẻo lánh không điện nước, đơn giản chỉ để thực hiện lý tưởng nuôi con không TV, đồng thời để tự cởi bỏ những ràng buộc của chủ nghĩa tiêu dùng, và nhiều thứ khác nữa. Lúc nhận mấy tấm ảnh, tôi không biết gì hơn ngoài những cái nhìn thấy trong ảnh. Hoá ra họ đã trụ lại được Coloma Valley hơn hai thập niên, nuôi con theo kiểu bà mẹ của thầy Mạnh Tử, xài đèn dầu, tắm nước giếng, nuôi gia súc, thư giãn cuối tuần giữa thiên nhiên phơi phới - hoàn toàn tránh xa mọi bon chen vật chất của xã hội Mỹ. Trong khi ở Việt Nam người ta đi kinh tế mới với bộ mặt nhăn nhó vì khổ cực và bộ dạng quắt queo vì thiếu ăn, ngay giũa lòng nước Mỹ, người Việt Nam nhỏ thó là bạn tôi đã làm một chuyện tréo cẳng ngỗng. Vậy đó mà ba đứa con, một đứa trở thành kiến trúc sư - chắc do ám ảnh và kinh nghiệm xây nhà ở tuổi thiếu niên, một đứa là nhà văn - nhờ không xen TV nên có nhiều thì giờ cho việc đọc sách, và cô Út, nhà sinh vật học - kết quả từ một tuổi thơ giữa hoa đồng cỏ nội.”
Bài này tôi đọc cũng đã lâu, nhưng hôm nay nhớ lại là vì đọc một bài viết về PV Đỗ Hồng Cư, trong đó có kể một trường hợp khác tương tự:
“Tôi kể bạn nghe thêm một kỷ niệm khó quên ở Mỹ. Thỉnh thoảng, tôi hay đi chợ người Việt, cách xa nhà chừng 45 phút lái xe. Tôi thèm ăn rau muống. Tôi phát hiện ra một gia đình chuyên trồng đủ các loại rau Việt Nam, tôi tìm đến. Bà ấy tên là bà Bọc. Khi tôi đến, bà Bọc- đầu đội nón mê, chân tay cáu bẩn, đang ngồi ăn cơm nguội chan canh rau dền ở góc vườn. Chồng bà là người Mỹ, cao to đẹp trai, làm kế toán, nhưng cứ rảnh rỗi lại ra vườn giúp vợ chăm sóc các loại rau. Nhìn bà Bọc ăn cơm nguội chan canh rau dền, chồng bà bắc dàn cho rau bí leo, tôi cảm giác, đó như một tác phẩm văn học. Vậy là tôi lại quay về nhà, lấy camera đến quay.
Nhà bà Bọc có đủ các loại rau quen thuộc của Việt Nam, từ cây rau húng, cây ớt, rau muống, rau bí… Bà Bọc nhìn đúng là một bà nông dân thuần chất. Bà quê gốc tận Hưng Yên, sang Mỹ từ năm 1975. Tôi hỏi bà, tại sao sống ở Mỹ ngần ấy năm, bà không hề thay đổi? Bà Bọc trả lời, chả có lý do gì phải thay đổi. Bố mẹ bà là nông dân, và bà cứ việc sống như một nông dân thứ thiệt trên đất Mỹ.
Tôi đã ngồi cạnh bà Bọc ở vườn rau muống, được bà mời một bát cơm nguội chan canh rau dền, cảm giác vừa thương nhớ, vừa gần gũi. Sau khi hoàn thành phóng sự, tôi có hứa sẽ gửi tặng đĩa CD phóng sự này, nhưng bà bảo, bà chẳng cần đĩa, chỉ cần khi nào có người về Việt Nam, mua giúp bà mấy cái nón mê là được. (Tôi đã thực hiện được lời hứa này khi gửi tặng bà mấy cái nón mê... đó là những kỷ niệm không bao giờ quên của đời tôi).”
Ôi, sống chậm. Chẳng phải tự nhiên mà tôi có một ước mơ.
Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010
Fighting Temptation
Thứ Năm, 9 tháng 9, 2010
Kiêng khem - Márai Sándor
Thứ Hai, 6 tháng 9, 2010
Linh tinh
Thứ Năm, 26 tháng 8, 2010
25/8/2010
*
Trưa muộn, tỉnh dậy sau một giấc ngủ ngắn, cả văn phòng yên tĩnh một cách lạ thường. Trong khoảng thời gian giữa hai cơn mưa của tháng cô hồn, không gian xung quanh như nhuốm một nét ảm đạm, nhưng tĩnh lặng, và rất thích hợp để nghe nhạc.
Như để thêm vào cái không khí đó một nét trầm, tôi chọn ra các bài của Leonard Cohen trong số 1976 bài từ thư viện iTunes để nghe. Bắt đầu bằng Because Of, rồi Morning Glory, rồi The Faith, qua So Long, Marianne. Đến The Partisan thì tỉnh hẳn, vì nhạc hay quá. Leonard nhấn nhá từng ca từ như thể những con thuyền dập dềnh trên dòng sông âm nhạc với guitar làm chủ đạo, đặc biệt là các âm bass siêu trầm.
Nghe thêm một lúc nữa thì phát hiện ra từ trước đến giờ mình đã bỏ qua không nghe hai bài By the Rivers Dark và Boogie Street. Cả hai đều hay và rất hợp với phong cách lounge mà dạo này mình đang kết. Nếu sau này mình có làm một tuyển chọn lounges thì phải cho cả hai bài này vào. Nghe By the Rivers Dark, không hiểu sao cứ nhớ đến Rivers of Babylon của ban nhạc cựu trào Boney M. Có lẽ là tại Leonard đã hát thế này:
Be the truth unsaid
And the blessing gone,
If I forget
My Babylon.
I did not know
And I could not see
Who was waiting there,
Who was hunting me.
By the rivers dark,
Where it all goes on;
By the rivers dark
In Babylon.
Ngồi ở Highland với ly nâu đá mà nghe bài này thì thật là tuyệt.
**
Buổi chiều tình cờ thế nào lại “được” đi mua sách ở Nguyễn Xí. Vào một nhà sách mà mình chưa vào bao giờ, mặc dù đã đi qua nó không biết bao nhiêu lần. Tình cờ nhìn thấy Dubliners – Người Dublin. Mua, chỉ vì tác giả của nó là James Joyce.
Tại sao lại James Joyce? Vì hai lý do.
Một là Joyce được Hemingway nhắc đến quá nhiều, với thái độ rất trân trọng, đôi lúc có phần ngưỡng mộ, trong cuốn Hội hè miên man của ông. Chẳng hạn như ở đoạn Hemingway nói chuyện với Sylvia – bà chủ thư viện Shakespeare and Company.
“Khi nào Joyce đến?”, tôi hỏi.
“Ông ấy có đến thì cũng thường vào chiều muộn,” bà nói. “Cậu chưa bao giờ gặp ông ấy à?”
“Chúng tôi có thấy ông ấy đi ăn cùng gia đình ở nhà hàng Michaud,” tôi đáp. “Nhưng nhìn người khác đang ăn thật bất lịch sự, vả lại Michaud đắt lắm.”
Hai là, tôi có nghe trong bài I Feel the Change Comin’ On, Bob Dylan đã “tự sự” như thế này: I’m listening to Billy Joe Shaver, and I’m reading James Joyce. Nếu đọc James Joyce mà có thể “cảm” được sự thay đổi đang đến với mình, thì cũng đáng để đọc lắm chứ.
***
Sau đoạn intro, Leonard đã “vào” bài Boogie Street, rất ấm, rất trầm và rất mượt, như thế này: “A sip of wine, a cigarette, And then it’s time to go”.
So come, my friends, be not afraid.
We are so lightly here.
It is in love that we are made;
In love we disappear.
Though all the maps of blood and flesh
Are posted on the door,
There’s no one who has told us yet
What Boogie Street is for.
Thứ Năm, 19 tháng 8, 2010
Ảo tưởng
*
Chiều đi làm về sớm hơn thường lệ, “nhận lệnh” đi đón Tí ở trường Ong Mật. Về nhà ba bố con rủ nhau đi ăn chè đỗ đen ở gần nhà. Nhìn Tít&Tí bỏ dở cốc chè, chạy ra nô đùa ở mảnh sân nhỏ rợp bóng cây lúc chiều muộn, chợt thấy lòng thanh thản một cách lạ thường.
**
Ở ngay giây phút ấy, chợt liên tưởng đến đoạn kết phim Revolutionary Road, quay cảnh ông bố đi làm về ngồi ở cái ghế dài với cái cặp bên cạnh, nhìn ngắm hai con chơi xích đu trong công viên vào một buổi chiều đầy nắng. Đó là một cảnh quay ngược sáng, người xem chỉ có thể nhìn thấy lưng của ông bố trẻ, nhưng có thể cảm nhận đầy đủ nét hạnh phúc rạng ngời trên khuôn mặt anh ta.
***
Chợt hiểu thêm ra thế nào là hạnh phúc đích thực.
****
Chợt nhớ ra rằng đã rất nhiều năm, mình mới chỉ “tồn tại” chứ chưa chưa phải là “sống”. Và cái câu hỏi to đùng về mục đích sống cuối cùng lại dấy lên nhức nhối, như thể nó đã trở thành một câu hỏi thường trực, quanh quẩn trong cái đời sống đầy u mê của mình trong suốt thời gian gần đây. Mà chưa có câu trả lời.
*****
Buổi tối đi nghe Nguyễn Duy đọc thơ ở 36 Điện Biên Phủ. Đọc ông nhiều, nghe nói về ông cũng nhiều nhưng đây là lần đầu nhìn thấy ông trong đời thực. Cũng là lần đầu tiên nghe ông đọc thơ trực tiếp. Hay đến lặng người.
Và tiếc, là chỉ đi một mình mà không có ông nội và mẹ của Tít Tí đi cùng.
******
.....
Bẵng đi mấy hôm, tối qua tình cờ kiếm được cuốn Chân trời có người bay của Đỗ Lai Thuý, trong bài viết về cụ Nguyễn Khắc Viện, có một đoạn như sau:
“... Rồi một hôm ông không muốn đọc cho viết nữa. Bạn hỏi vì sao, ông chỉ trả lời bằng một câu buông thõng: Ảo tưởng! Nghe được chuyện này tôi bỗng nhớ đến bài Nói chuyện với một nhà đạo học của học giả Đào Duy Anh. Đó là cuộc tranh luận triết học của tác giả với Cao Xuân Huy về phép biện chứng của Hêghen, của Mác với biện chứng Lão Tử. Cuộc đấu bất phân thắng bại đã kết thúc bằng một trận cười xoà và câu nói vuốt: Cũng là A.Q cả thôi. Chữ A.Q mà các cụ dùng ở đây, có lẽ, là chủ nghĩa duy lý tưởng, chủ nghĩa Đông Ki Sốt, là ảo tưởng. Các bậc minh triết, đến cuối đời, đều nhìn thấy cái hư vô. Có lẽ, con người cần thấy cái hư vô càng sớm càng tốt, không phải để sống vô trách nhiệm theo chủ nghĩa Mắc kê nô, mà để sống bình tĩnh hơn, tốt đẹp hơn..... Con người hiện đại sống khó ở chỗ vẫn nhìn thấy hư vô mà vẫn tích cực tham gia vào đời sống xã hội.”
Câu hỏi đã được trả lời.
*******
Trời Hà Nội đã chớm Thu. Có thể thấy không khí Thu đã len lỏi đâu đó trong từng ngõ ngách buổi sớm, len cả vào các blog và diễn đàn.
Thèm được ngồi cà phê sớm, trong một khu vườn yên tĩnh đầy tiếng Thu.
