Recent Posts

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2009

Sống như mình muốn

Ai cũng muốn được sống như mình muốn, nhưng giữa cái "muốn" và cái "làm được" thường có khoảng cách. Với ông DTQ, có lẽ khoảng cách này bằng không. Sống được như vậy quả thực là khó, có lẽ chỉ dân sử mới đạt được.

Bài viết về DTQ có rất nhiều, nhưng đây là bài tương đối đặc sắc, có nhiều đọan hay, nên trích lại ở đây:

... Nhưng có lẽ cái tạo cho mình một chút gì đó được gọi là bản lĩnh hay sắc thái riêng thì chính là nghề sử. Nghề sử tạo cho mình vốn sống, vốn sống của chính mình và vốn sống của người khác. Nó làm cho mình có một cái nhìn bình thản, nhất là khi mình ngày càng có tuổi. Bình thản là vì người ta thấy mọi cái xảy ra nó đều có lý của nó. Người ta có thể so sánh chuyện này với chuyện kia đã từng xảy ra, hay lặp lại, hay số phận của con người này với người kia có thể lên đến đỉnh cao của vinh quang vẫn có thể bị rơi xuống đáy vực thất bại, tất cả với tôi không có gì là lạ. Bình thản giúp tôi không bao giờ lý tưởng hoá vấn đề nên tôi không thấy thất vọng, không cực đoan trước mọi biến cố cuộc đời. Ví dụ như tình trạng rất bất công xã hội, giầu - nghèo khiến cho nhiều người cảm thấy bức xúc, nhưng tôi nhìn trong sự phát triển của đất nước thì điều đó là không thể khác được.... 

....Đã một thời chúng ta hay bàn về vấn đề ai thắng ai. Nhưng rồi mình nghĩ ở đời chẳng ai thắng ai. Rồi ai hơn ai? Chưa chắc ai hơn ai. Nhưng cái này thì có: Ai cần hơn ai? Khi anh được mọi người cần hơn ai thì đó là khi năng lực của anh, giá trị của anh có thể giúp được người khác, có thể đặt giá. Khi vợ mình đau đẻ thì ông xích lô quan trọng hơn ông Tổng Bí thư (cười!)....

------------

“Từ nhãn quan của nghề sử, tôi sống bình thản, sống như mình muốn” - Nhà sử học, Đại biểu Quộc hội Dương Trung Quốc bộc bạch.

Ông có thể cho biết quan niệm của mình về tư duy hiện đại của một người đàn ông?

Ông Dương Trung Quốc: Tư duy con người có thể được kích bằng hai chiều: trục hoành là vị thế của mình trong đời sống xã hội và trục tung là tuổi tác. Tôi nay đã 62-63 tuổi, là tuổi đã có tích luỹ kinh nghiệm sống. Hoàn cảnh của tôi ít bị đảo lộn, ít bị thay đổi, bươn chải. Lý lịch của tôi có thể nói là rất đơn giản. Tôi sinh ra và lớn lên ở Hà Nội. Học và làm chỉ một nghề, là nghề sử, ở một cơ quan duy nhất. Ngoài ra tôi tham gia hoạt động xã hội. Nếu nói về thiệt thòi thì tôi chỉ có thiệt thòi lớn nhất là bố tôi mất khi tôi chưa ra đời. Mẹ tôi là tư sản. Nhưng cân bằng với hoàn cảnh này tôi lại có ông bố liệt sĩ nên so với những người khác cùng thời với mình thì tôi ít bị vùi dập. Như thế có thể nói cuộc sống của tôi đơn giản, trải nghiệm cũng đơn giản. Nhưng có lẽ cái tạo cho mình một chút gì đó được gọi là bản lĩnh hay sắc thái riêng thì chính là nghề sử. Nghề sử tạo cho mình vốn sống, vốn sống của chính mình và vốn sống của người khác. Nó làm cho mình có một cái nhìn bình thản, nhất là khi mình ngày càng có tuổi. Bình thản là vì người ta thấy mọi cái xảy ra nó đều có lý của nó. Người ta có thể so sánh chuyện này với chuyện kia đã từng xảy ra, hay lặp lại, hay số phận của con người này với người kia có thể lên đến đỉnh cao của vinh quang vẫn có thể bị rơi xuống đáy vực thất bại, tất cả với tôi không có gì là lạ. Bình thản giúp tôi không bao giờ lý tưởng hoá vấn đề nên tôi không thấy thất vọng, không cực đoan trước mọi biến cố cuộc đời. Ví dụ như tình trạng rất bất công xã hội, giầu - nghèo khiến cho nhiều người cảm thấy bức xúc, nhưng tôi nhìn trong sự phát triển của đất nước thì điều đó là không thể khác được. Cũng như lịch sử dân tộc mình chưa bao giờ trải qua sở hữu. Bây giờ là cơ hội duy nhất mà chúng ta đang khát sở hữu, khắc phục được cái thực tại hàng ngàn năm qua Việt Nam phải lựa chọn một cách sống bên cạnh người Tầu, lấy làng xã làm hạt nhân. Làng xã là một xã hội khép kín, cực kỳ bền vững và câu kết với nhau nhưng lại dựa trên nền tảng không phân hoá được giai cấp. Khẩu hiệu lấy của người giầu chia cho người nghèo trong suốt chiều dài lịch sử như một ngọn cờ tụ nghĩa. Nhưng khi mà vượt ra khỏi khuân khổ vốn có mà hội nhập với thế giới như hiện nay thì ta đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Và chính bây giờ nếu nhìn theo góc độ nghề nghiệp thì tôi cho là thực chất ta đang bước vào thời kỳ tích luỹ tư bản chủ nghĩa nguyên thuỷ, giai đoạn mà mà thiên hạ đã từng trải qua từ hàng trăm năm trước đây với cực kỳ đau khổ của chiến tranh, của bóc lột nô lệ… Bước đi lịch sử của mình bây giờ không thể làm như ngày xưa được, không thể đi xâm lược ai cũng không thể buôn bán nô lệ được. Duy nhất có thể vận hành ở đây lúc này là các nhân tố: đất đai,  quyền lực và cơ hội (trong cơ hội có cả tài năng và năng lực vận hành). Ba nhân tố này nó khắc phục, thay thế cho những chuyến vượt biển, cướp biển. cướp nô lệ hay những chuyến đi tìm vàng… ngày trước. Nhìn xã hội, đôi khi ta thấy nó bất bình thường, bất công, nhưng hệ quả tất yếu của nó là tạo ra một tầng lớp hữu sản. Và chừng nào có được một tầng lớp hữu sản thì mới có dân chủ. Đó là quyền được tồn tại cùng với tài sản của mình, dựa trên nền tảng của sở hữu tư nhân. Khi đó ta mới hội nhập thế giới được. Hay như hiện nay đơn từ của dân nhiều là thế, tôi cho rằng đó không có gì lạ. Còn nhớ trước đây có thời kỳ, người ta triệt hạ cả một chủng tộc người da đỏ để chiến giữ đất đai, xác lập quyền sở hữu.

Tôi đang đi ở giai đoạn cuối cuộc đời và chỉ muốn để lại một ấn tượng gì đó đối với những người biết mình. Cũng có nghĩa là tôi không muốn để lại cái gì quá cao siêu. Và mình sống như mình muốn.

Nói như thế có thể hiểu ông là người rất có nhiệt huyết. Nó từ đâu ra? 

Ông Dương Trung Quốc: Nhiệt huyết thể hiện sự ham sống. Đừng nghĩ đến cái gì ghê gớm, quá cao siêu quá, đừng ảo tưởng mà hãy nghĩ những người sống với anh đang nghĩ về anh như thế nào, hãy tạo ra một giá trị đối với người ta, tạo ra tình cảm đối với người ta. Vì mấy trăm năm sau người ta chỉ nhớ được một hai cái tên thôi, nên đừng có tham vọng lưu danh. Cho nên mình rất trân trọng những mối quan hệ mình có trong cuộc sống. Người ta hay hỏi hạnh phúc là gì? Nó chỉ là một phân số mà tử số là hiện thực mà mẫu số là mơ ước. Nếu anh biết cách điều chỉnh thì lúc nào anh cũng thấy thoả mãn. Khi anh không biết điều chỉnh thì đừng có quá nhiều khát vọng. Phải tự tạo ra sự mãn nguyện. Không ai mang lại cho anh cả. Ngay cả với những cái mà người ta cho mình làm liều thì cũng phải tự định lượng được.

Ông đã liều?

Ông Dương Trung Quốc: Nhiều lần rồi chứ, ngay cả những khi mình phát biểu. Phải thử chứ!

Tại sao ông lại dám thử trong khi nhiều người, nhiều đại biểu Quốc hội vẫn  còn e ngại?

Ông Dương Trung Quốc: Vì quan trọng là do người ta còn sợ chính mình. Đôi khi người ta hay sợ ma là vì thế.

Ông có biết từng có sự can thiệp của ban nọ, bộ kia đối với báo chí, khuyến cáo họ không nên nếu như không nói là không được phỏng vấn một số vị đại biểu Quốc hội trong đó có ông?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi biết quá đi chứ! Ngày tôi mới bắt đầu vào Quốc hội, tại phiên họp đầu tiên năm 2002, có một cảm hứng từ một ông thầy của tôi truyền lại, rằng tại sao Quốc hội lại bầu một người lấy một người, đã khiến tôi phát biểu về vấn đề dân chủ, rất hồn nhiên. Thời trước, thời Cụ Hồ, từ 72 người  của Hà Nội chọn ra 7 người vẫn là những người xứng đáng đấy thôi. Tối hôm đó sau khi đi đánh tennis về, nghe vợ tôi nói có một vị có tuổi là cử tri ở phố Lý Nam Đế đến muốn gặp. Sáng hôm sau, ông ấy lại đến và nói với tôi: “Tôi rất tán thành và rất thích ý kiến phát biểu của anh, nhưng cũng phải nói cho anh biết thế này”. Và ông ấy đưa cho tôi xem một văn bản mà người ký lại là bạn cùng học lớp sử với tôi, ông Nguyễn Hồng Vinh, hồi đó là Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tư tưởng văn hoá trung ương (nay là Ban Tuyên giáo trung ương) chỉ thị cho báo chí như thế. Tôi hơi bất ngờ nhưng không ngạc nhiên. Tôi chủ động tránh gặp gỡ báo chí nhưng anh em bảo tôi cứ cho họ hỏi bình thường.

Sau sự việc này ông có phải hạn chế hơn hay dè dặt?

Ông Dương Trung Quốc: Không! Mình đã từng trả lời từ lâu trên báo Công an: Cái đầu phải làm nên cái cổ. Mục đích của mình là nói. Nói phải suy nghĩ. Đừng bao giờ để cái đầu lìa khỏi cổ. Sự không ngoan là quan trọng nhất của con người. Đừng có làm gì cực đoan.

Trong số các đại biểu Quốc hội có người tâm sự rằng: Phát biểu như đại biểu Dương Trung Quốc chắc chỉ làm được một nhiệm kỳ là nghỉ. Ông nghĩ sao?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi vẫn thường trả lời những câu hỏi như thế này, kể cả khi trả lời những người nước ngoài, rằng: Cho đến nay chưa hề có bất kỳ một áp lực nào, hay có ai vỗ vai, nhắc nhở đối với tôi. Đây không phải là tôi bênh vực gì cho chế độ. Đôi khi tôi cũng hơi giật mình không hiểu vì sao mình lại như thế. Cũng có thể vì mình có ba lợi thế: Không phải là đảng viên, làm sử và làm báo.

Thế còn cái vụ ông, một người không phải là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam mà vẫn được “đặc cách” bổ nhiệm làm Tổng biên tập tạp chí Xưa và Nay?

Ông Dương Trung Quốc: Chính tôi cũng không hiểu tại sao lại như vậy, kể cả cái chức Tổng thư ký Hội Khoa học lịch sử. Có người nói đùa tôi là do bên ngành An ninh cài cắm vào đó…

Trở lại cái nhiệt huyết mà ông nói đó là do ông “ham sống”. Là ham sống thế nào thưa ông?

Ông Dương Trung Quốc: Đơn giản là tôi muốn làm như thế. Đã một thời chúng ta hay bàn về vấn đề ai thắng ai. Nhưng rồi mình nghĩ ở đời chẳng ai thắng ai. Rồi ai hơn ai? Chưa chắc ai hơn ai. Nhưng cái này thì có: Ai cần hơn ai? Khi anh được mọi người cần hơn ai thì đó là khi năng lực của anh, giá trị của anh có thể giúp được người khác, có thể đặt giá. Khi vợ mình đau đẻ thì ông xích lô quan trọng hơn ông Tổng Bí thư (cười!). Khi bà con đang cần đến mình thì mình thấy được giá trị của mình. Có thể mình chưa giúp được bà con cho đến đầu đến đũa nhưng quan trọng là mình luôn luôn làm hết lòng.

Có bao giờ ông lượng được sự ảnh hưỏng của những lời nói và hành động của mình đối với sự phát triển của xã hội?

Ông Dương Trung Quốc: Nói là không biết thì không phải nhưng thực sự là tôi không quan tâm đến điều này. Chưa bao giờ mình chủ ý quan tâm đến môt bài phát biểu nào của mình được phát trên TV trừ trường hợp ngẫu nhiên bắt gặp. Chưa bao giờ mình đi tìm một bài báo nào phỏng vấn mình.

Với một nhãn quan “Bình thản”, dường như ông có một niềm tin tưởng, hy vọng tương đối tốt vào tương lai?

Ông Dương Trung Quốc: Tôi là một người luôn luôn nhìn hoàn cảnh lạc quan, sáng sủa.

Trong Quốc hội có nhiều người cũng tâm huyết như ông nhưng họ lại nghĩ khác…

Ông Dương Trung Quốc: Đấy là do họ quá gắn bó với chế độ.

Ông có biết hiện nay trên mạng người ta đồn thổi về một lời “sấm truyền” của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm?

Ông Dương Trung Quốc: Mình quan niệm lời sấm truyền có thể có thật trong xã hội nhưng quyết định giá trị của nó lại là đời sống thực tại. Hay nói cách khác người ta vận vào đó mà ước vọng.

Ông cũng thế, cũng vịn vào ước vọng như thế mà tin tưởng vào tương lai?

Ông Dương Trung Quốc: Cuộc sống hiện nay thay đổi quá nhanh mà chúng ta phải cố gắng phấn đấu để theo kịp nó. Tôi là người luôn cảm thấy mình rất thiếu thời gian. Không biết từ bao giờ tôi luôn có nỗi ám ảnh mình sẽ chết trẻ (cười!). Thế là tự nhiên mình có cảm giác rất tiếc thời gian. Tiếc đến mức không bao giờ mình đánh bạc. Không phải là mình cho rằng đánh bạc là xấu. Cũng như ở nhà không bao giờ mình tắt đèn hay tắt TV. Mình luôn muốn làm việc. Ngủ thì thôi, cứ tỉnh dậy là làm.

Ông làm việc như thế thì vợ con có phàn nàn gì không?

Ông Dương Trung Quốc: Bà ấy quá hiểu và tôn trọng những thói quen của tôi.

Quan niệm của ông về gia đình?

Ông Dương Trung Quốc: Gia đình là cái bến. Không có bến thì con thuyền không thể đi đâu được. Nhưng mình không thể chỉ loanh quanh ở bến.

Ông có phải băn khoăn về sự ngưỡng một của các người đẹp dành cho ông? Mà ông thì khá đẹp trai…

Ông Dương Trung Quốc: Đôi khi mình vẫn công khai quan niệm của mình, rằng: Kẻ tham lam chỉ có thêm, không có bớt. Nếu những người đó cũng chấp nhận như thế thì mình… Ok (cười!).

Ông có e ngại gì khi vợ ông đọc được những dòng này?

Ông Dương Trung Quốc: Vợ tôi thường hay nói đùa: Đàn ông các anh 10 ông thì cả 11 ông đều “hư”, càng già thì càng “đổ đốn” (cười!). Bà còn nói là rất thích mình được bầu làm đại biểu Quộc hội vì cho rằng (tôi nói ngoài lề thôi đấy nhá): như thế là gửi được mình vào một cái... “Nhà trẻ vĩ đại”… (lại cười!)

Ông có trù tính gì cho công việc trong tương lai?

Ông Dương Trung Quốc: Hoạt động xã hội đã ngấm vào máu mình rồi. Hiện nay mình tham gia thêm Chủ tịch Hội UNESCO Hà Nội. Mình đang tham gia xây dựng hệ thống các thư viện trong nhà tù và hoàn trả lại các sắc phong xưa do bạn bè khắp nơi trên thế giới sưu tầm được trao gửi tôi từ nhiều năm qua cho chủ nhân của nó là nhân dân các địa phương trên khắp cả nước sau khi giám định lại.

Cảm ơn ông!

Ngọc Kha-Hoàng Đình thực hiện 

Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2009

Cù Huy Hà Vũ, Again

Mới tháng trước tôi mới có một entry về gã này. Tôi hơi mạo muội khi gọi là "gã", nhưng hãy cho tôi gọi thế bởi tôi chỉ dùng từ đó để gọi những người mà tôi cảm thấy "hay hay". "Gã" của tôi hoàn toàn không có nghĩa xấu như những định kiến hay những mô tip văn chương thông thường hay gán cho từ này. "Gã" đối với tôi là một cái gì đó đáng yêu, đáng được trân trọng.

Như đã nói trong entry trước, tôi đã có tí thay đổi trong quan niệm về gã. Trong tuần này, gã đã mang cho tôi 2 ngạc nhiên liên tiếp, hai sự kiện củng cố thêm cho quan niệm của tôi.

Đầu tiên phải kể đến bài thơ gã làm khi cụ Võ An Ninh mất. Mặc dù làm một nghề rất "pro" là luật sư, chất "nghệ" trong gã vẫn không hề thuyên giảm, mà tôi đoán phần lớn là do cái gien di truyền lại từ ông cụ thân sinh ra gã. Xin được chép lại ở đây bài thơ:

Khóc Võ An Ninh

Võ An Ninh, Võ An Ninh!

Thoảng nghe súng đạn đầy mình

Máy ảnh cầm tay vài cỗ

Dặm xa chớp loé nhân tình.

Chết đói (1) nằm cùng Thuỷ mặc (2)

Tháp thiêng lộn ngược mà kinh! (3)

Lặng lẽ  trăm năm  Tối - Sáng 

Trắng - Đen một cõi thênh thênh.

Hẳn Ông dẫu về Bên ấy

Chụp Đời tợ thuở bình sinh.


Còn đây là chân dung Võ An Ninh do gã hoạ:



Nhưng quả thứ hai mới thực sự là một "ngạc nhiên bom tấn". Vẫn biết gã đã nổi danh với những kiện tụng đình đám, nhưng "cú" kiện tụng đề ngày 11/6/2009 của gã thì quả là vô tiền khoáng hậu ở Việt Nam. Ngày này xứng đáng được ghi vào lịch sử tố tụng Việt Nam, khi lần đầu tiên, một Thủ tướng bị... kiện.


Không biết cái Toà án Nhân dân Hà Nội, nơi thụ lý đơn kiện của gã, sẽ làm gì với cái thứ mà họ nhận được từ một người mang tên Cù Huy Hà Vũ vào cái ngày bình-thường-nhưng-đặc-biệt ấy. Cũng không biết rồi gã sẽ thắng hay sẽ thua, nhưng với qủa này, gã chắc chắn đóng đinh mình vào một trong hai chức danh: hoặc là một gã luật sư lẩn thẩn, hoặc là một gã luật sư lớn nhất từ trước tới nay ở VN. Viết đến đây tôi thấy hơi tiếc cho gã khi gã đã không đi giám định tâm thần trước, để ngoài đơn kiện thì còn gửi kèm theo cái giấy giám định tâm thần, như một lời khẳng định "tôi viết đơn này trong trạng thái hoàn toàn minh mẫn..." - dòng chữ mà chắc gã cũng thuộc lòng ở mỗi chúc thư mà một luật sư phải soạn thảo.


Không hiểu sao khi đọc cái đơn, tôi lại nhớ đến một thuật ngữ/case study hay đuợc dùng trong game theory là "thế lưỡng nan của người tù" (prisons' dilemma). Có một người đang ở trong thế đó.

Thứ Năm, 11 tháng 6, 2009

Một góc nhìn từ SGTT

Cách đây một vài năm, VTC có ra mắt một chuyên mục mới "Góc nhìn thẳng". Chuyện sẽ không có gì là đình đám, nếu như việc nhìn thẳng là một việc bình thường. Tuy nhiên, có lẽ bây giờ người ta ít "nhìn thẳng", hoặc đã quên mất rằng nhìn thẳng là một phép lịch sự tối thiểu trong giao tiếp: Khi nói, nên nhìn thẳng vào mắt người nghe. Do vậy, "nhìn thẳng" trở thành hiện tượng trong thế giới toàn những nhìn "cong", nhìn "zíc zắc", nhìn "qua kính tiềm vọng", vân vân và vân vân. Góc nhìn thẳng, do đó, trở thành một lời cảnh tỉnh, rằng chúng ta đã đi quá xa những phép tắc tối thiểu, những nguyên lý cơ bản mà trong cơn say phát triển chúng ta đã quên mất.

Rất may còn có những người đã tạo ra chuyên mục này, và cả những người ở SGTT với mục Góc nhìn. Tuy chỉ với cái tên ngắn gọn là "Góc nhìn", nhưng qua các bài viết trong chuyên mục, tôi hiểu, đó chính là những "Góc nhìn thẳng". Ví dụ, như bài mới ra ngày hôm nay: "Ai nuôi Nhà nước?". Câu hỏi thật giản đơn, và tôi nghĩ câu trả lời cũng thật giản đơn, nhưng có quá nhiều người, trong đó có tôi, đã không hỏi và do đó, cũng chẳng trả lời.

Bài báo, do vậy, không chỉ là một lời nhắc nhở cho ta biết, ai là người thực sự nuôi Nhà nước, mà còn cho ta thấy mình đã vô cảm đến mức nào?

Thiết nghĩ, cũng nên tư duy thêm xem cái gì đã khiến cho nhiều người, trong đó có tôi, trở nên vô cảm như vậy?

.... Cách thu thuế như ở Mỹ và Canada nhằm thường xuyên nhắc nhở người dân hiểu và nhớ rằng mình nuôi Nhà nước là một biện pháp thiết thực tôn trọng người dân, cổ vũ dân chủ. Người dân ý thức rõ là bộ máy nhà nước do dân nuôi nên bộ máy này phải phục vụ dân; người nuôi bộ máy có quyền đòi hỏi các cơ quan công quyền phải thực hiện đúng quy chế công khai, minh bạch và được dân giám sát....

.... Chúng ta thường thấy các khẩu hiệu treo trên đường phố hoặc viết chữ to ở bảng đầu làng, đầu ngõ tuyên truyền việc đóng thuế, nhưng hầu như chỉ nói về nghĩa vụ (có khi thêm vinh dự) của người dân khi nộp thuế; hiếm khi thấy khẩu hiệu giúp cho dân hiểu rõ đóng thuế là nuôi Nhà nước....

.... Không chỉ người dân thường mà không ít người trong bộ máy công quyền cũng không ý thức được rằng mình được dân nuôi. Ở nước ta mỗi khi người dân có được thành tựu, hoặc được được hưởng một lợi ích nào đó thì thường nói là ơn Đảng, ơn Chính phủ....

.... đối với một số chuyển biến tích cực của nền kinh tế trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, nếu chỉ thấy “sự chỉ đạo tập trung kiên quyết của Chính phủ và sự nỗ lực của các ngành, các cấp” thì đó là cách nhìn rất phiến diện vì không đánh giá đúng những cố gắng rất to lớn của dân và doanh nghiệp....

.... Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã nêu rõ: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân”. Để thực hiện yêu cầu đó, câu hỏi: “Ai nuôi Nhà nước và cả hệ thống chính trị ở Việt Nam?” cần được mọi người trong bộ máy công quyền cũng như mọi người dân trả lời rõ và ghi nhớ trong lòng....

Người viết những dòng trên là ông Trần Đức Nguyên, là một chuyên gia kinh tế, đã từng tham gia nghiên cứu, hoạch định quan điểm, chính sách đổi mới ngay từ thời kỳ đầu, Nguyên trưởng ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ. Ông cũng đã từng là thư ký kinh tế cho cố TBT Trường Chinh.

Có lẽ, mỗi khi có công chuyện cần giải quyết ở các cấp xã, phường, hoặc cơ quan công quyền, chúng ta nên in bài báo này và mang theo, để, mỗi khi gặp trục trặc thì lại yêu cầu cán bộ đọc qua bài này. Tôi không biết để họ bỏ thời gian đọc hết bài báo đó thì có cần phải "bôi trơn" hay không? Nhưng nếu câu trả lời là có, tôi nghĩ là cũng đáng để bôi.

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2009

Hoài niệm Huế (1)

Chúng tôi dự định đi Huế từ thời còn chưa cưới nhau. Chương trình cũng đã được lập sẵn, nhưng sau đó đã phải huỷ bỏ, vì nhiều lý do. Lúc đó, tôi không nghĩ cái sự hoãn lại đó lại kéo dài đến thế. Vậy mà phải đến khi thằng lớn đã lên 5, còn cậu nhóc thứ hai đã lên 3 tuổi, dự định đi Huế của chúng tôi mới trở thành hiện thực.

Háo hức, do đó, là chuyện đương nhiên. 

Từ trước ngày lên đường cả nửa tháng, bà xã đã treo lên blast ước vọng được ngồi cà phê ở Huế. Chúng tôi còn cùng nhau lên một lịch trình chi tiết cho chuyến đi, ngày nào, giờ nào, làm gì, ăn gì, ở đâu, di chuyển như thế nào,... có lẽ còn chi tiết hơn tất cả những lịch trình công tác mà tôi đã từng lập trước đó. Vẫn biết sự tự do là mục đích tối thượng của mỗi chuyến đi, chúng tôi vẫn gò ép mình vào một lịch trình chi tiết như vậy, để có thể tận dụng được hết quỹ thời gian hạn hẹp của kỳ nghỉ. Cũng biết rằng có nhiều bất ngờ đang đợi mình phía trước, chúng tôi vẫn muốn biến lịch trình đó thành một quỹ đạo riêng, và dù thế nào đi nữa, chúng tôi cũng sẽ không để chệch quá xa quỹ đạo của mình. Có lẽ với ngân sách dồi dào và khoảng thời gian là nửa tháng, chúng tôi sẽ không bỏ ra, dù chỉ là một phút giây, để làm ra những thứ như vậy.

* * *

Chúng tôi đi chuyến tàu tối, xuất phát từ ga Hà Nội lúc 7h15. Phải đến khi quăng mình vào cái “ghế mềm, điều hoà” và ổn định mọi thứ, từ hành lý lỉnh kỉnh cho tới chỗ ngồi của Tít, thành viên đặc biệt của chuyến đi, tôi mới có cảm giác bỏ lại đằng sau mọi lo toan, bận rộn đìu ríu bấy lâu nay. Tàu chuyển bánh đúng giờ. Chúng tôi xa Hà Nội trong cái dập dình của toa tàu, giữa những âm thanh đay nghiến của bánh tàu xuống đường ray, tiếng vặn cùng cục nặng nhọc ở mỗi khúch quanh, và tiếng loa phóng thanh the thé của nhà tàu, lòng mơ màng đến đích đến thanh bình vào sáng hôm sau: ga Huế.

Chẳng có việc gì đáng kể để làm trên cái toa tàu buồn tẻ, tôi lôi hai cái cuống vé ra ngắm nghía. Tôi ngạc nhiên khi nhận ra trên đó, người ta chỉ ghi giờ khởi hành mà không ghi giờ đến ga cuối. Là người ít đi tàu, đối với tôi dường như đây là một phát hiện lớn. Tôi nghĩ mãi về điều đó, là vì nếu không có cái giờ đến chính xác, lịch trình của chúng tôi có thể bị xáo trộn. Dựa vào kinh nghiệm về thời gian của những người đã từng đi trước đó, chúng tôi đã dự định sẽ đến Huế vào lúc 8h30 sáng hôm sau, sẽ tụ tập ăn nhanh một tô bún bò quanh ga Huế rồi lên xe dông thẳng vào Lăng Cô. Nếu muộn hơn, vụ ăn sáng bằng bún bò sẽ là điều không thể. Cùng lúc đó, tôi nhận ra rằng việc không in giờ đến ga cuối, suy cho cùng là biểu hiện của sự kém tự tin của ngành đường sắt. Đáng buồn thay, đó lại là sự kém tự tin của một ngành có bề dày lịch sử hơn 100 năm – một trong những ngành đầu tiên của Việt nam được định nghĩa và phân loại bằng hai chữ “công nghiệp”. Nhưng tôi nghĩ người ta cũng đã nhầm khi phân lọai như vậy. Ngành đường sắt, trên hết phải là một ngành dịch vụ. Tôi đã nghe ở đâu đó nhiều lần rằng, khi đề cập đến sự yếu kém và chậm phát triển của ngành này, người ta đổ lỗi cho việc thiếu vốn. Nhưng vấn đề của ngành dịch vụ, chắc chắn không phải là vốn, mà phải là cái não trạng kinh doanh dịch vụ, một cái business mind hướng về khách hàng – những thứ mà từ tấm vé tàu tôi suy ra rằng lãnh đạo ngành đường sắt không có hoặc vì điều gì đó, họ đã cố tình lãng quên.

Bỏ qua nỗi hoang mang nho nhỏ về thời gian, tôi cảm thấy hơi khó chịu khi thấy mồ hôi bắt đầu rịn ra. Tôi bắt đầu quan sát xung quanh và nhận ra nhiều người cũng đang cùng cảnh ngộ. Mặc dù là toa “điều hoà”, như người ta đã ghi vậy trên tấm vé, nhưng không khí rất nóng vì cái điều hoà đang trục trặc. Chẳng có ai giải thích hoặc có động thái thể hiện là sẽ tiến hành sửa chữa cái trục trặc đó. Chúng tôi tự nhủ rằng chắc ngồi im một lúc, không khí sẽ dịu đi.

Không lâu sau, tôi nhận ra rằng chúng tôi là một thiểu số 3 người đã rơi vào một toa tàu gồm toàn những người làm chung một cơ quan hoặc họ hàng. Họ đã mua vé gần hết toa và giờ đây họ bắt đầu thể hiện sự thân quen của họ như thể họ đang ở trong cơ quan hoặc nhà của họ chứ không phải trên tàu. Có lẽ đối với họ, toa tàu này đích thực là “a home away from home”, như nhiều khách sạn nổi tiếng thường quảng cáo vậy. Lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là tàu chợ, mặc dù cái tàu chúng tôi đang đi không phải là tàu chợ, cũng chính là vì chúng tôi đã rơi đúng vào cái chợ vỡ đó. Lúc đó, tôi biết tôi sẽ có một đêm không yên bình.

Giống như những cuộc vui thông thường khác, đám chợ vỡ bắt đầu gầy độ nhậu và đánh bài. Họ tập trung ở giữa toa và bắt đầu cuộc vui bằng những tiếng cụng ly, những tiếng xuýt xoa mỗi khi lỡ đánh nhầm một quân bài, những tiếng cười hô hố hoặc những lời kể lể the thé, những phàn nàn và ức chế trong công việc, những đàm tiếu về người này, người kia, vân vân và vân vân. Minh hoạ cho những âm thanh đó là những dáng người ngả ngốn, những cái bụng phệ bèo nhèo và những khuôn ngực đàn ông lép kẹp trong cái áo ba lỗ, những khuôn mặt ửng đỏ, những nụ cười toe toét hết cỡ, những người đàn bà ghé tai nhau thầm thì, và những bắp chân đầy lông lá gác lên thành ghế. Một tay trong nhóm, có lẽ là lãnh đạo ở cơ quan, mặt hơi ửng đỏ, liên tục đi lại, nói năng chỉ đạo hết đám nhậu lại đến đám tá lả. Hắn khệnh khạng nâng ly, ép một tay thuộc hạ phải uống cho bằng hết, rồi lại quay sang nói ông này phải đánh cây này, ông kia phải đánh cây kia, và một ông nào đó đang ở nhà với vợ, lẽ ra phải đi cùng chuyến này mới phải. Hắn gãi bụng xoành xoạch, vén cái áo phông lên tận nách và bắt đầu phàn nàn chửi bới cái điều hoà – lúc này đã mát hơn trước nhưng người hắn đang bốc hoả vì rượu nên cũng chẳng ăn thua gì. Hắn lăng xăng khắp toa tàu để tìm chỗ điều khiển cái điều hoà nhưng không có. Hắn lớn tiếng chửi bới cái điều hoà như thể Chí Phèo đang chửi cả làng Vũ Đại. Rồi cuối cùng hắn thể hiện sự nhanh nhẹn – một trong những “tố chất lãnh đạo” của hắn - bằng cách lôi kéo được tay trưởng toa vào độ nhậu. Tay này sau một hồi zô zô, ngả ngốn, ăn uống nói cười bắt đầu đứng dậy làm nhiệm vụ cao cả của mình là sửa chữa cái điều hoà bị hỏng. Chẳng biết kết quả thế nào nhưng cuối cùng thì tôi cũng đã thấy mát hơn hẳn, khi cả đám chợ vỡ đã chán bài bạc, rượu đã ngấm và bắt đầu quay ra ngáp vặt hoặc ngáy như kéo gỗ. Cái chợ đã tan khi tất cả những người tham gia họp chợ đã áp dụng tối đa khẩu hiệu “make it your home”. Lúc đó đã là nửa đêm.

Tất cả những cảnh tượng đã qua khiến tôi nhớ đến những đám đông bên Tàu mà tôi đã từng chứng kiến. Nhốn nháo, lộn xộn, nói cười oang oang, chen lấn xô đẩy và “xếp gạch” nơi công cộng, những đặc điểm mà chắc chắn nhà văn Bách Dương đã đưa vào cuốn “Người Trung Quốc xấu xí” nổi tiếng của mình. Việc quan sát những đặc điểm đó thậm chí còn đem lại cho tôi những niềm vui nho nhỏ mỗi khi có dịp lang thang nơi xứ người. Nhưng giờ đây, tôi không cười được khi thấy người Việt mình cũng “xấu xí” chẳng khác gì người anh em Trung Quốc. Chẳng nhẽ “tương đồng văn hoá” lại có nghĩa là xấu xí như nhau?

Tôi hơi đói nên tìm đến toa “nhà hàng” trên tàu. Toa này tối om, một nhân viên nhà tàu ngồi gần đó nói với tôi là đã hết giờ phục vụ. Bình thường tôi hay mặc áo màu xanh trứng sáo, nhưng hôm nay nhìn gã nhân viên trong màu áo ấy, tôi thấy ghét lạ, thậm chí còn tự nhủ nếu công ty mình may đồng phục thì cũng sẽ không chọn màu này. Tôi thấy lạ một điều là khi còn sớm, mọi người đều đã ăn uống no nê trước khi lên tàu thì các hàng ăn uống lũ lượt qua lại các toa tàu để bán hàng, và chẳng có mấy người mua. Nhưng đến khi họ bắt đầu đói và cần đến cái ăn, đồ uống thì lại chẳng có ai ở đó để đáp ứng, ngoài gã trực toa ngái ngủ trong cái áo đồng phục ngành đường sắt màu xanh trứng sáo và câu trả lời đáng ghét kia?

Cuối cùng, tôi cũng thiếp đi được một lúc. Tôi tỉnh dậy khi tàu dừng lại ở ga Đông Hà. Tàu dừng lại rất lâu, không hiểu để làm gì. Tôi tiếp tục ngủ được trong mệt mỏi và cái đói chưa được thoả mãn. Đến khoảng năm rưỡi sáng thì tôi tỉnh hẳn. Con tàu đang lao đi trong ánh sáng mờ sương của buổi sớm. Lần đầu tiên kể từ suốt cuộc hành trình, tôi nhìn thấy cảnh vật bên ngoài. Những quả đồi trọc, những cánh đồng trống không, xơ xác, thỉnh thoảng mới qua một vài mái nhà xiêu vẹo. Tôi chợt nhận ra rằng, từ Hà Nội, để đến được với những resort sang trọng, những bãi biển xanh tươi nằm dọc miền Trung, người ta vẫn phải băng qua một quãng đường dài của nhọc nhằn và đói nghèo. Nối kết giữa hai đầu của những phù du & phồn hoa phố thị là sợi dây hiện thực của những lam lũ vất vả mưu sinh.

Mọi người bắt đầu thức dậy. Đến khoảng 7 rưỡi sáng thì mọi người lục tục đi ăn sáng. Cỗ máy bán hàng ngái ngủ đêm hôm qua đã bắt đầu hoạt động trở lại. Tôi vẫn mơ màng với vụ ăn sáng bằng bún bò ở Huế nên chẳng mấy mặn mà với đồ ăn trên tàu. Nhưng tôi đã sớm phải vỡ mộng. Dù chẳng có thông báo chính thức gì từ cái loa phóng thanh xoe xoé lẹp bẹp trên tàu, giới thạo tin cho tôi biết tàu sẽ đến Huế rất muộn. Nghĩa là tôi sẽ đến Huế vào giờ chuẩn bị ăn trưa chứ không phải thời gian ăn sáng. Thế nghĩa là những gì tôi lo ngại đã trở thành sự thật. Sau khi check lại thông tin với một vài “đồng phục áo xanh trứng sáo đáng ghét” khác, tôi miễn cưỡng cùng bà xã đi ăn sáng.

Chúng tôi bước vào một toa mờ mịt khói và nhớp nhúa. Chỉ có khoảng 5-6 bàn và tất cả đều ken đặc người. Họ đang xì xụp quanh những hộp mì nghi ngút. Chúng tôi định quay ra thì có một bàn đã ăn xong, đứng dậy nhường chỗ. Chúng tôi rón rén ngồi lên những chiếc ghế cáu bẩn, cố tránh những vệt nước mì nhầy nhụa đang lênh láng trên mặt bàn, chực chờ chảy vào quần áo chúng tôi mỗi khi toa tàu lắc mạnh.

Giống như mọi người, chúng tôi gọi ba hộp mì. Tôi hơi đói nên cái mùi vị từ hộp mì thoạt tiên rất hấp dẫn. Nhưng chỉ sau gắp đầu tiên, tôi đã thấy có gì đó không ổn. Tôi nhìn bà xã, nói “Mì hôi quá”. Người đồng hành của tôi đáp lại, từ tốn và nhẹ nhàng: “Có mùi cứt gián”. Đó đúng là cái mùi hôi mà tôi chưa cắt nghĩa được. “Đốn ngộ” về mùi là thành tích mà tôi đạt được chỉ sau một lời giảng vô cùng ngắn gọn của một “thiền sư” là vợ tôi ngồi đối diện. Cuối cùng thì bữa sáng cũng xong, sau khi vật lộn với  hộp mì nông choèn mà nước cứ chực trào ra bắn lên mặt mỗi khi chúng tôi cúi xuống xực gắp mì. Tôi không hiểu vì cớ gì nhà tàu phải phục vụ thứ mì tôm như vậy, trong khi hàng ngày trên ti vi quảng cáo có không biết bao nhiêu là loại mì khác? Nó còn tệ hơn cả thứ mì cân rẻ tiền nhất mà thời sinh viên chúng tôi phải ăn hàng ngày.

Rồi cuối cùng thì Huế cũng hiện dần ra qua ô cửa, qua những địa danh nghe đặc chất Huế, qua những lăng mộ hai bên đường mà tôi biết qua kiến trúc đặc trưng của nó.

Ga Huế chào đón chúng tôi dưới ánh nắng chói chang lúc hơn mười giờ sáng, chậm gần hai tiếng so với lịch trình dự kiến và không một lời xin lỗi. Ra khỏi ga Huế, cảm giác của tôi như một gã tù được phóng thích và phải đến lúc đó, tôi mới tin rằng hành trình của chúng tôi đã thực sự bắt đầu.

* * *

(Còn tiếp)

Thứ Bảy, 6 tháng 6, 2009

"Cấn" luật & Nhạy cảm

Những nhà làm luật mà vẫn còn dùng những từ "nhạy cảm" như thế thì tình trạng dưới đây còn tiếp diễn là đương nhiên:

.... việc lạm dụng từ “nhạy cảm” trong đánh giá thông tin dẫn đến nhiều phức tạp trong công tác quản lý. Ranh giới giữa “nhạy cảm” và “không nhạy cảm” quá mong manh nên khi không được giải thích rõ mà bị xử lý vi phạm thì người bị xử lý sẽ không phục.

“Khi tuyên truyền, chúng ta định hướng nhà báo phải nêu vấn đề phù hợp với lợi ích xã hội. Nhưng như thế nào là phù hợp? Đôi khi chúng ta “hướng” nhà báo thông tin phù hợp với lợi ích xã hội tức là phù hợp với ý kiến của lãnh đạo nhưng không hẳn phù hợp với lợi ích của nhân dân”.

“Quản lý báo chí thì phải biết làm báo. Mình không biết gì về vấn đề đó mà xử lý sai phạm thì làm sao thuyết phục cơ quan báo chí được.”

Hoan hô ông Đặng Khắc Thắng - PGĐ Sở 4T Nghệ An. Đọc toàn bài: "Báo chí năng động, quy định không theo kịp". 

Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2009

Xin chào & Tạm biệt

Hello Goodbye là một trong số những bài rất "ngộ nghĩnh" của Tứ quái The Beatles. Nó ngộ nghĩnh ở tiết tấu của bản nhạc đã đành, nhưng càng nghe càng thấy John Lennon đã nhận xét đúng về nó: "meaningless". Mặc dầu vậy, Paul, nguời sáng tác bài hát cũng đã tìm ra lý do để nâng tầm cho nhạc phẩm này khi trả lời tạp chí Disc về ý nghĩa của bài hát: "The answer to everything is simple. It's a song about everything and nothing. If you have black you have to have white. That's the amazing thing about life." Thực đúng là khoảng cách giữa thực tế và quảng cáo??? Mặc dầu vậy, đã dính đến Beatles thì không thể không nghe Hello Goodbye, và câu làm mình buồn cười nhất chính là "You say goodbye, and I say Hello".

Và đây là lý do để mình nhớ đến bài này, vào ngày hôm nay:

Hello: Badman Return, vợ chồng mình đã chính thức nhận lại được cái xe đã mất sau hơn hai năm.

Goodbye, không những vậy còn là Goodbye Forever: Vĩnh biệt Nghệ sĩ nhiếp ảnh Võ An Ninh.

Dẫu thế nào đi nữa, cũng nên nghe lại Hello Goodbye:




Và đây là lyrics:

Sáng tác: John Lennon/Paul McCartney. (Mặc dù ghi vậy nhưng trên thực tế chỉ có mình Paul sáng tác bài này. Bài này đã bị John chê dở và cũng là một trong những bài hát thể hiện rõ mối bất hoà giữa John & Paul dẫn đến sự tan vỡ của nhóm sau này)

You say yes, I say no
You say stop and I say go, go, go
Oh, no
You say goodbye and I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello

I say high, you say low
You say why, and I say I don't know
Oh, no
You say goodbye and I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello

Why, why, why, why, why, why
Do you say good bye
Goodbye, bye, bye, bye, bye

Oh, no
You say goodbye and I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello
Hello, hello
I don't know why you say goodbye
I say hello
hello, hello
I don't know why you say goodbye I say hello
Hello

Hela, heba helloa
Hela, heba helloa

SGTT & Lối sống

Trong lúc nhiều tờ báo mạng đang đi xuống về mọi mặt, thì tờ SGTT ngày càng nổi lên như một trong những tờ báo đáng để đọc, đáng để đánh dấu đọc mỗi ngày.

SGTT đáng đọc là vì nó ngày càng chứng tỏ là một trong những tờ báo hiếm hoi dám tiên phong động đến những vấn đề gai góc & nhạy cảm mà nhiều báo không dám đăng, hoặc nếu có thì cũng chỉ là đi sau.

Hơn thế nữa, SGTT cũng có nhiều bài viết ngắn, nhưng giản dị và thú vị về nhiều khía cạnh của cuộc sống trên mọi miền đất nước, chứ không chỉ chăm chăm vào việc "tiếp thị" cho những thứ thuộc về "Sài Gòn" như cái tên của nó.

Hôm nay là ngày đầu tiên tờ báo này ra mắt một chuyên mục mới: Lối sống, với bài viết đầu tiên cũng tương đối ấn tượng: "Sống đẹp đồng nghĩa với sống chậm". Xin trích dẫn một vài đoạn dưới đây:

Chúng ta không thể chơi những thứ không thuộc về mình. Trở lại với chính mình bắt đầu từ nguyên tắc của sự cân bằng. Mọi stress từ quan hệ, tâm lý, công việc, đều do mất cân bằng, kể cả sướng quá, giàu quá cũng bị stress. Sống đúng, sống đẹp, trước hết là sống cân bằng. Muốn thế, phải hiểu và nghe được chính mình, sống thực với chính mình, mới hiểu được mọi người, mọi thứ mới hài hoà. Bản năng cộng với tri thức, văn hoá sẽ giúp ta hiểu được mình, để có thể sống thật, chơi thật, chơi một cách tự trọng, tôn trọng người khác. Mà đã là văn hóa thì cần phải có thời gian, nếu không, chỉ là đồ giả. Chơi thật trước tiên cần tri thức, sau đó mới là tiền, là thời gian, là đam mê. Chơi thật cũng là một cách học. Vì trong quá trình chơi, tri thức, văn hoá sẽ được nâng lên.

Tôi tự mình kiểm soát được mọi thứ nhờ tâm tĩnh. Quan trọng nhất là giữ được cái gốc, đó là gia đình. Mình phải biết yêu gia đình, chăm sóc, hy sinh, vun vén hàng ngày, để ý đến từng chi tiết, không thể mặc kệ được. Gia đình chiếm một nửa thời gian của tôi. Gia đình gắn với mình cả đời, không thể thể nghiệm được. Hơn ai hết, tôi hiểu phần lớn những cái người ta theo đuổi không thực sự cần cho mình, mà vì người khác. Sự lo toan về tiền bạc hiện rõ trên khuôn mặt con người, nhưng thực sự cuộc sống cần vật chất không nhiều lắm. Tinh thần quan trọng hơn, điều đó không dễ nhận ra. Tôi luôn giữ khoảng cách, tránh bị tác động trực tiếp bởi những quan hệ không cần thiết. Cực chẳng đã tôi mới phải ra phố, bạn bè thân thường rủ đến nhà. Tôi có rất ít bạn thân, nhưng là những người thú vị lắm. Bạn tôi, Võ Thiện Thanh, cũng là người theo chủ nghĩa gia đình, sống chậm, không xem tivi, chỉ đọc báo mạng.

Chỉ có gia đình mới là giềng mối quan trọng để gìn giữ những hệ giá trị đã bị lãng quên, để biết giá trị của riêng mình, gia đình mình, dân tộc mình. Hãy trở lại với đời sống bình thường, những điều rất cũ, trở lại những giá trị bản thân. Người ta cần nhiều thời gian hơn để sống, chứ không phải để chết, tại sao chúng ta cứ lao về phía trước? Sống đẹp đồng nghĩa với sống chậm. Hạnh phúc chính là chấp nhận sự cân bằng. Hãy chấp nhận hoạ phúc như nhau, hãy là bầu trời, đừng là những đám mây, đó chính là tinh thần của yoga. Hiểu được như thế thì mọi điều đều đơn giản. Trong sự nghỉ ngơi, quan điểm của tôi là càng gần tự nhiên càng tốt. Tôi thích những loại cây mộc mạc, những vùng núi hoang dã. Khi gia đình có cuộc sống như vậy, trẻ con cũng là những “chiến sĩ bảo vệ môi trường”, biết yêu thiên nhiên, nâng niu cây cỏ, thương yêu thú vật…

Những người đàn ông hãy trở về nhà vào những bữa cơm chiều, và những người phụ nữ hãy vào bếp để nấu những món ăn của tình yêu thương cho chồng con, cho bạn bè, chứ đừng xây bếp đẹp chỉ để… ôsin nấu. Tôi tin chỉ cần như thế thôi thì sự giả dối đã giảm đi một nửa.

Đó là những quan niệm sống của Phạm Hoàng Nam - người được chọn phỏng vấn trong chuyên mục Lối sống tuần này.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2009

Bức Tường & Trung Nguyên

Bức Tường: Đó không phải là bức tường Berlin - một trong những biểu tượng nổi tiếng nhất của chiến tranh lạnh và đã sụp đổ vào đúng ngày sinh nhật lần thứ 12 của mình. Đó cũng không phải là siêu phẩm "The Wall" của Pink Floyd mà mình yêu thích và đã từng nghe đến mê muội & trầm cảm. Đó là ban nhạc Bức Tường - một trong những ban nhạc rock Việt hiếm hoi có được chỗ đứng sâu và rộng trong trái tim người yêu nhạc Việt Nam, và hơn thế nữa, còn có nhiều lần "đem chuông đi đánh xứ người".

Trung Nguyên: Đó không phải là Trung Nguyên trong truyện chưởng của Kim Dung - nơi các anh hùng hảo hán lang bạt kỳ hồ ngày đêm luyện chưởng, huynh đệ tương tàn & thể hiện nghĩa hiệp của bậc anh hùng. Đó là cà phê Trung Nguyên - chuỗi cửa hàng nhượng quyền cà phê  xuất hiện lần đầu ở Hà Nội cách đây đúng mười năm và sau đó bùng nổ thành một trong những ví dụ về nhượng quyền thành công nhất ở Việt Nam.

Vậy chúng có liên hệ gì với nhau mà lại cùng xuất hiện trong entry này? Ngoài việc cả Bức Tường & Trung Nguyên đều được biết đến rộng rãi và phát triển mạnh trong cùng một khoảng thời gian (1999-2006), mình không biết giữa hai cái tên này có mối liên hệ gì không? Mình không biết liệu Trần Lập có thích cà phê Trung Nguyên hay không (mặc dù biết chắc Trần Lập mê cà phê), và cũng không biết liệu Đặng Lê Nguyên Vũ có thích nhạc rock của Bức Tường hay không. Câu trả lời thật đơn giản: Cả hai có một điểm chung về năng lực sáng tạo & là hai cái tên được mình nghĩ đến nhiều nhất trong mấy ngày vừa rồi.

1. Khởi đầu với slogan Khơi nguồn sáng tạo, quả thật chính Trung Nguyên đã sáng tạo không ngừng để được như ngày hôm nay. Tuy nhiên, trước nhiều sức ép, Trung Nguyên cũng đã đang tự làm mới mình bằng việc khai trương một chuỗi cửa hàng cà phê Trung Nguyên theo mô hình nhượng quyền mới, với những hình ảnh mới. Slogan Khơi nguồn sáng tạo đã không còn được sử dụng, có lẽ nó đã hoàn thành sứ mệnh đưa Trung Nguyên đến với 64 tỉnh thành của Việt Nam & 37 quốc gia trên thế giới. Thay vào đó là một tuyên ngôn có lẽ dựa trên ý tưởng của networking: Nơi hội tụ những người đam mê và yêu cà phê, hay "Kết nối đam mê, Kết nối sáng tạo". Chỉ trong một tuần vừa qua, mình đã có dịp cà phê cà pháo ở cả hai quán đầu tiên theo kiểu này. Cả hai đều cực đẹp và sang trọng, không có bất kỳ một nét nào "xập xệ" như chuỗi cà phê trung nguyên cách đây 5-10 năm. Hình thức đã nâng cấp Trung Nguyên lên một tầm cao mới. 

Ở địa chỉ đầu tiên, 36 Điện Biên Phủ, mình bị ấn tượng bởi kiến trúc quán được thiết kế bởi Võ Trọng Nghĩa với bộ khung làm từ cây tầm vông, mái lợp kính & sàn lát đá chẻ. Toilet ở đây có lẽ được xếp hạng 4 sao và view cũng như địa thế của quán thì quả thực đáng mơ ước: cạnh Bộ Ngoại giao và đối diện Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lẽ ngoài mấy quán cóc vỉa hè cạnh khu vườn cỏ trước Lăng (nơi thường bán nước và bim bim cho trẻ con đi dạo Lăng Bác vào buổi tối) thì không còn quán nào tại Hà Nội có được một vị trí như vậy. Tường của quán được trang trí bằng những bức chân dung các vĩ nhân là tín đồ của cà phê, cùng với những phát biểu của họ về thứ thức uống mà họ yêu thích, trong đó có thể kể đến nhà soạn nhạc Bach, văn hào Balzac, Hoàng đế Bonaparte và Giáo hoàng Clement VIII. Giống như mọi quán xá khác, không gian của quán tràn ngập âm nhạc, nhưng đây không phải là những ca từ u uẩn của Trịnh Công Sơn với tiếng hát Khánh Ly, cũng không phải thứ nhạc vàng sến đặc của Sài Gòn trước năm 1975 và Hải ngoại sau này, cũng không phải thứ nhạc pop thị dân đang nhan nhản trong đời sống phố thị của Việt nam, mà nó là nhạc cổ điển - cổ điển chính hiệu chứ không phải thứ nhạc cổ điển đã được Richard Clayderman sửa sang lại cho dễ nghe vốn đang tràn ngập các quán cà phê khác. Đặc biệt & ấn tượng hơn, cái đồ vật để phát ra những âm thanh cổ điển đó lại là những bộ loa Tannoy - một trong những cái tên "hàng khủng" trong thế giới hi-end và cũng là cái tên mà mới nghe qua đã thấy cổ điển không kém gì thứ nhạc mà nó đang phát ra. Menu của quán cũng là một sáng tạo nữa: nó không phải là những quyển menu đóng bìa da sang trọng ở nhà hàng, khách sạn; cũng không phải như những tờ menu nguệch ngoạc ép plastic nhàu nát và cáu bẩn ở những quán hàng bình dân. Menu ở Trung Nguyên bây giờ xuất hiện dưới hình thức của một tờ báo ngày, như thể nó là một tờ Coffee Daily hay Coffee News vậy. Xen giữa những thức uống, giá rổ là những bài viết ngắn về cà phê, về Trung Nguyên và đủ thứ hầm bà lằng xung quanh cà phê. Có lẽ thứ kém sáng tạo nhất của quán này chính là cái logo mới của Trung Nguyên: Nhìn một cái đã ra ngay cái logo của Mini hay Benley, chỉ có điều chữ Mini hoặc chữ B trong vòng tròn đã được thay bằng hình một hạt cà phê đang toả sáng như mặt trời. Nhưng cho dù cái logo có kém sáng tạo thế nào chăng nữa, với chừng ấy thứ đang hiện diện ở 36 Điện Biên Phủ, quán này xứng đáng được như cái tên gắn trên tấm biển ở lối vào: Hội quán Sáng tạo Trung Nguyên.

Quán thứ hai là một dạng cà phê sách. Cà phê sách đã bắt đầu xuất hiện mấy năm gần đây. Sài Gòn có Phương Nam Book Càphê, hay hệ thống Ciáo café cũng đã kịp cho ra phiên bản cà phê sách đầu tiên. Ở Hà Nội có Intello trên đường Quốc Tử Giám cũng chạy theo dạng này, nhưng mình chưa kịp đến xem mặt mũi thế nào thì đã đóng cửa hoặc chuyển đi đâu mất mà mình không biết. Vậy nên cà phê sách Trung Nguyên là quán đầu tiên mình được lê la. Điểm độc nhất vô nhị là quán cà phê sách này nằm ngay ở tầng hầm của Thư viện Quốc gia Việt nam - một biểu tượng về sách vở, "thư phòng" của Việt Nam. Nhờ vào đó, dân nghiền cà phê đến 52 Hai Bà Trưng cũng có thể đọc được nhiều sách đang được lưu trữ tại đây mà không cần phải có thẻ thư viện. Tuy nhiên, cũng vì vị trí như vậy mà quán này không có view đẹp như ở 36 Điện Biên Phủ, nhưng độ sang trọng thì cũng không kém, trừ hai điểm dở là nhiều muỗi và Toilet thì hơi bất tiện do phải dùng chung với hệ thống toilet của thư viện ở tầng trên.

2. Lâu lắm không nghe Bức Tường, nhưng mấy ngày vừa rồi lại nhớ đến một sáng tác của nhóm này, bài Đường Đến Ngày Vinh Quang. Bình thường mình không chạy theo chủ nghĩa hô hào khẩu hiệu, nhưng quả thật lyrics của bài này quá hợp với bối cảnh hiện tại, hợp như lạc rang &rượu trong slogan "Quá hợp với rượu" in trên gói lạc rang tại chuỗi nhà hàng Xalộ 4. Hợp đến mức mình phải buộc lòng chép lại ở đây.


ĐƯỜNG ĐẾN NGÀY VINH QUANG 

Cùng trèo lên đỉnh núi cao vời vợi 
Ðể ta khắc tên mình trên đời 
Dù ta biết gian nan đang chờ đón 
Một trái tim vẫn âm thầm 
Ta bước đi hướng tới muôn vì sao 

Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng 
Bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai 
Ðường vinh quang đi qua muôn ngàn sóng gió 
Lời hứa ghi trong tim mình 
Vẫn bước đi hiên ngang đầu ngẩng cao 

bridge 
Và con tim ta đã ước ng*yện cùng nhau vai kề vai 
Niềm vinh quang ta chia sẻ cùng nhau 

Ngày đó, ngày đó sẽ không xa xôi 
Và chúng ta là người chiến thắng 
Và ta biết dẫu lắm thác ghềnh cheo leo trên đường xa 
Vượt gian nan ta vươn tới những đỉnh cao 

Ngày đó, ngày đó sẽ không xa xôi 
Và chúng ta là người chiến thắng 
Ðường đến những ngày vinh quang không còn xa 
Dù khó khăn vẫn còn 

Và mặt trời rực sáng trên cao vời 
Ban sức sống huy hoàng khắp muôn nơi 
Cài vinh quang lên vai những người chiến thắng 
Khoảnh khắc ghi trong tim hồng
Bao khó khăn ta cũng sẽ vượt qua ./.